NHẠC TẾT 2026
Việt Hoa bang giao sử

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:14' 19-04-2024
Dung lượng: 442.8 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:14' 19-04-2024
Dung lượng: 442.8 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Việt Hoa bang giao sử
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
VIỆT HOA BANG GIAO SỬ
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
Những cuộc bang giao về thượng cổ thời đại
Mối bang giao Việt Hoa trong thời đại tự chủ
Mối bang giao Việt Hoa về thời đại cận kim
Sách tham khảo
CHÚ THÍCH
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN
Huyền Quang - Xuân Khôi - Đạt Chí
VIỆT HOA BANG GIAO SỬ
Bản quyền © Huyền Quang - Xuân Khôi - Đạt Chí
Lời giới thiệu
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn,
gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác
được, nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi
chặng đường lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc thống kê sự kiện một
cách khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với
nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị của thực
dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi,
Quang Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không ngừng tranh đấu
hướng tới tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ
sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững
chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí
các thế hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa
và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn,
triều đại và nhân vật - dù gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử nước nhà hiện đang là mối
quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát
triển Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã và đang kiên
trì con đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch
sử, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần Sách Alpha - một doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan tâm tới
việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền thống văn hóa lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở không
ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu, công
trình nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân
lưu giữ. Để chung tay tái hiện một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ
phần Sách Alpha đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất bản
lại và xuất bản mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách văn học
có giá trị… về lịch sử, bước đầu hình thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những sản phẩm đầu tiên của dự án này.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
Lời nói đầu
Nước Việt Nam ta, trải qua bốn nghìn năm lịch sử, đã có hàng chục thế kỷ nằm dưới quyền Bắc
thuộc, nền văn hóa Trung Hoa đã có một ảnh hưởng sâu xa vào văn hóa nước nhà. Hai dân tộc
Việt Hoa đã có một cuộc bang giao truyền thống trải qua mấy ngàn năm lịch sử.
Kể từ thượng cổ thời đại cho đến thời đại cận kim, cuộc bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa
lúc nào cũng tỏ ra rất khăng khít. Một khi những cuộc chiến tranh xẩy ra đã tạm yên rồi, người
Việt Nam lại phải cố gắng gây tình hòa hiếu với Trung Hoa cho yên mặt bắc. Với một số cư dân
quá ít ỏi so với Trung Hoa, người Việt chẳng dại gì lại gây hấn với ông bạn láng giềng to lớn và
mạnh mẽ hơn mình gấp trăm lần.
Người Việt đã thần phục Trung Hoa không phải đó là một dấu hiệu hèn kém, vì lịch sử đã hiển
nhiên chứng tỏ người Việt Nam lúc nào cũng có óc tự cường, không bao giờ chịu đi làm nô lệ
cho người khác. Chứng cớ là trong thời kỳ Bắc thuộc, rất nhiều người Việt đã nổi lên chống lại
người Tàu đặng mở ra những triều đại tự chủ mới. Bà Trưng, bà Triệu, Lý Bốn, Triệu Quang
Phục, Mai Thúc Loan, Khúc Thừa Dụ, Ngô Quyền là những nhân vật bằng xương bằng thịt hẳn
hoi đã nổi lên chống lại Trung Hoa và sức bành trướng của họ.
Kể từ nhà Ngô trở đi, nước Việt Nam ta mới thực sự hoàn toàn bước vào giai đoạn tự chủ.
Nước ta đã thoát hẳn cái ách ngoại xâm và lệ thuộc vào ông bạn to lớn phương Bắc. Tuy vậy,
không phải chúng ta đã dứt được hẳn những mối liên quan với Trung Hoa. Như trên chúng tôi
đã nói, nền văn hóa Trung Hoa đã có ảnh hưởng sâu xa mật thiết vào văn hóa nước nhà, cho
nên các triều đại tự chủ, Việt Nam vẫn phải mở mang cuộc bang giao hòa hiếu với họ.
Bị sáp nhập vào bản đồ Trung Hoa ngót 11 thế kỷ, ta đã noi theo Tàu kể từ tôn giáo, tập quán
và học thuật. Sức tiến hóa trong nước hoàn toàn dựa vào sức tiến hóa của ông bạn láng giềng.
Đối với Trung Hoa, ta chỉ biết bắt chước họ, chứ ngoài ra không thấy phát biểu được một sáng
kiến gì mới, ngoài việc Hàn Thuyên dựng cờ sáng tạo ra chữ Nôm về đời vua Nhân Tông nhà
Trần (1279-1284)1.
Về phương diện kinh tế và chính trị, nước Việt Nam ta ở vào tình trạng thua kém, giáp giới
phía nam có Chiêm Thành, Ai Lao, văn minh sơ khai, cho nên nước ta chỉ biết nhắm vào Trung
Hoa ở phía bắc để làm khuôn mẫu.
Từ khi Triệu Đà lập ra nước Nam Việt, đem văn minh Tàu sang truyền bá ở phương Nam, cho
nên từ đó về sau người nước mình đều nhiễm cái văn minh ấy. Học thì toàn dùng Tứ thư, Ngũ
kinh và triết lý Khổng, Mạnh. Giấy mực và sách vở cũng mua ở Tàu, hấp thụ nền văn hóa Trung
Hoa đến cội rễ, nên các vua ta cũng sợ Trung Hoa tuyệt giao với mình. Ta chỉ sợ nếu sợi dây
bang giao đứt, Trung Hoa sẽ không bán sách vở, điền khí và đồ sắt cho ta nữa.
Nước đã nhỏ bé, nên từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, vua Việt Nam phải nhận tước phong của
Tàu. Mặc dầu những cuộc xung đột diễn ra, nhưng khi tấn kịch tranh thủ hạ màn, thì Việt Nam
lại sang Tàu và vua Việt Nam lại nhận tước phong. Mỗi một lần thắng trận xong, vua Việt Nam
muốn giữ tình giao hảo cố hữu ấy lại phải phái Tuế cống sứ sang Tàu. Tấn kịch mâu thuẫn ấy
cứ luôn luôn diễn ra, kẻ chiến thắng thường phải cầu hòa và thần phục kẻ chiến bại.
Hơn nữa, chúng ta lại luôn luôn phải vượt núi, qua sông, tiến đánh các nước Chiêm Thành, Ai
Lao, Chân Lạp. Nước Việt Nam phải đem hết sức mình ra để áp đảo và mưu cuộc bình trị ở
phương Nam, nên ta không thể luôn luôn có một lực lượng hùng hậu để cự với những đạo quân
dũng mãnh của Trung Hoa được.
Bởi vậy, chúng ta đã thần phục ông bạn Bắc phương chẳng qua là để tâm chú trọng vào cuộc
Nam tiến. Khuất phục kẻ mạnh để xúc tiến tự cường bên trong, đó chẳng qua cũng là mánh
khóe ngoại giao của các triều vua nước ta vậy.
Ở đây, chúng tôi không chú ý vạch lại những cuộc chiến tranh đầy gian lao và hiểm nghèo của
người dân Việt. Chúng tôi chỉ muốn phác họa lại một cách rõ ràng và tế nhị về những mối bang
giao Việt – Hoa kể từ khởi thủy đến thời đại cận kim.
Cái công việc đó là của những nhà học giả uyên thâm, quảng bác, sức học năm xe, nhưng ở đây
làm cái việc “đánh trống qua cửa nhà sấm”, chúng tôi chẳng qua mang một thành ý là nêu lên
một vấn đề và mong mỏi các bậc cao minh nghiên cứu kỹ càng hơn, ngõ hầu tạo nên một bộ
sách đầy đủ và hoàn toàn!
Kẻ viết những trang sử bang giao Hoa – Việt này, lúc nào cũng mang một thành ý là phơi bày
sự thực đã ghi trong sử sách. Chúng tôi chỉ muốn nói ra một sự thật của những cây bút vô tư,
chứ không bao giờ muốn khơi lại đống tro tàn đã tắt ngấm từ những triều đại trước. Xin đừng
ai ngộ nhận những quan điểm của chúng tôi mà kết thù vì những chuyện đã qua, không bao giờ
trở lại.
Trên dòng lịch sử, cái hay cũng như cái dở, chúng ta cần phải thẳng thắn nói ra, miễn sao bằng
một ngòi bút khách quan là hơn hết, Việt – Hoa bang giao sử chỉ là những tấn kịch đã hạ màn,
tuy vậy mối kết giao giữa anh em Hoa – Việt vẫn còn bền bỉ đời đời. Nhắc lại đây, chúng tôi e là
một chuyện thừa, dù sao cũng vẫn phải minh biện để khỏi có sự ngộ nhận.
Chúng tôi tin rằng, các bạn Trung Hoa, khi đọc những dòng này, đã hiểu rõ thành ý của tác giả.
Sau hết, chúng tôi xin ghi ở đây mấy lời thành thực cảm tạ bác sĩ Trần Văn Lai, đã có nhã ý cho
mượn sách làm tài liệu và các bạn khác đã chỉ bảo hay giúp đỡ chúng tôi, trong khi biên tập
cuốn sách nhỏ này.
Hà nội, ngày 6 tháng tư năm 1952.
Soạn giả: Huyền Quang, Xuân Khôi và Thi Đạt Chí
Những cuộc bang giao về thượng cổ thời
đại
Nước Việt Nam ta lập quốc từ đời Hồng Bàng, họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời. Nhưng xét
kỹ từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18, cả thảy có 20 ông vua, trị vì vừa
được 2622 năm tính từ Nhâm Tuất (2879) đến Quý Mão (258) trước kỷ nguyên.
Trong thời gian đó, cuộc bang giao của nước Việt ta vẫn còn lờ mờ, vì các sử gia coi đời Hồng
Bàng là một chuyện không được xác thực cho lắm.
Căn cứ vào sách vở cũ, sử Tàu có chép rằng năm Tân Mão (1109 trước kỷ nguyên) đời vua
Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường ở phía nam xứ Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ
sang cống. Nhà Chu phải sai người thông ngôn mới hiểu được tiếng. Sau đấy, ông Chu Công
Đán lại phải chế ra xe chỉ nam để đưa sứ Việt Thường về nước. Duy có một điều là người ta
không hiểu đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là đất của ông tổ Hùng Vương của chúng ta
thời bấy giờ hay không?
Sau đó, Hùng Vương thứ 18 bị Thục Vương Phán đem quân sang đánh lấy mất nước Văn Lang,
Hùng Vương thua chạy, nhảy xuống giếng tự tử. Thục Vương chiếm được nước Văn Lang, tự
xưng là An Dương Vương, và cải quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô tại Phong Khê.
Trong khi An Dương Vương làm vua ở nước Âu Lạc thì bên Tàu vua Thủy Hoàng nhà Tần đã
nhất thống cả thiên hạ. Năm Đinh Hợi (214 trước kỷ nguyên) Thủy Hoàng sai tướng là Đô Thư
đem quân đi đánh lấy Bách Việt (vào quãng những tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, và Quảng Tây
bây giờ).
An Dương Vương thế yếu nên cũng phải cho sứ giả sang xin thần phục nhà Tần. Bấy giờ, nhà
Tần mới chia đất Bách Việt và đất Âu Lạc ra làm 3 quận gọi là: Nam Hải (Quảng Đông), Quế
Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bắc Việt bây giờ).
Năm Quý Tỵ (208 trước kỷ nguyên) là năm thứ 50 đời vua An Dương Vương. Triệu Đà, một
viên quan úy ở quận Nam Hải sang đánh lấy nước Âu Lạc lập ra nước Nam Việt.
Triệu Đà tự xưng là Vũ vương và đóng đô ở Phiên Ngung, gần thành Quảng Châu bây giờ.
Hồi ấy, bên Tàu, Lưu Bang đã diệt được nhà Tần, nhà Sở, thống nhất thiên hạ rồi, lên ngôi
hoàng đế tức là vua Cao Tổ nhà Hán.
Năm Ất Tỵ (196 trước kỷ nguyên), năm thứ 12 đời Vũ vương nhà Triệu, Cao Tổ có sai Lục Giả
sang phong cho Vũ vương. Vốn tính kiêu căng, không muốn thuần phục nhà Hán, khi sứ thần
Lục Giả sang tới nơi xin vào yết kiến, Vũ vương cứ ngồi xếp vành tròn không chịu đứng dậy
tiếp, Lục Giả thấy vậy liền nói:
− Nhà vua là người nước Tàu, mồ mả và thân thích đều ở cả châu Chân Định. Nay nhà Hán đã
làm vua thiên hạ, sai sứ sang phong vương cho nhà vua. Nếu nhà vua kháng cự sứ thần, không
chịu làm lễ thụ phong, Hán Đế tất phải tức giận, hủy hoại mồ mả và giết hại thân thích của nhà
vua rồi đem quân sang đánh thì nhà vua làm thế nào?
Vũ vương nghe thấy những lời bày tỏ của sứ Tàu Lục Giả, hoảng nhiên tỉnh ngộ, vội đứng lên
làm lễ và mỉm cười nói:
− Tiếc thay ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không thì ta cũng chẳng kém gì Hán
Đế!
Năm Mậu Ngọ (183 trước kỷ nguyên) vua Cao Tổ nhà Hán băng, bà Lữ Hậu lâm triều, rồi nghe
theo những lời gièm pha, cấm không cho người Hán buôn bán những đồ vàng, đồ sắt và đồ
điền khí với người Nam Việt. Vũ vương tức giận, liền tự lập thành Nam Việt hoàng đế và cử
binh mã sang đánh quận Trường Sa (tỉnh Hồ Nam bây giờ).
Khi Lữ Hậu mất, Hán Văn Đế lên ngôi, lại sai Lục Giả đưa thư sang khuyên Vũ Đế về thần phục
nhà Hán. Thư rằng:
Trẫm là con trắc thất vua Cao Đế, phụng mệnh ra trị nước Đại, vì non sông cách trở, thẹn mình
phác lậu2, cho nên lâu nay chưa từng đưa thư sang hỏi thăm nhà vua.
Từ khi đức Cao Đế, xa bỏ quần thần, đức Huệ Đế qua đời, bà Cao Hậu ra lâm triều, không may bị
bệnh, để cho họ Lữ chuyên quyền, toan đem con họ khác để nối vị đức Huệ Đế. May nhờ nhà Tôn
miếu linh thiêng các công thần ra sức dẹp kẻ tiếm nghịch.
Trẫm vì các vương hầu cùng bách quan cố ép, cho nên phải lên ngôi hoàng đế. Mới rồi trẫm nghe
nhà vua có đưa thư cho Long Lư Hầu, nhắn tin anh em họ hàng ở quận Châu Định; và xin bãi
binh ở quận Trường Sa.
Trẫm cũng nghe lời thư của nhà vua, đã ra lệnh cho Tướng quân Bắc Dương hầu bãi binh về.
Còn anh em họ hàng nhà vua ở Châu Định thì trẫm đã cho người thăm nom, lại sai sửa sang
phần mộ nhà vua, thật là tử tế.
Thế mà vừa rồi trẫm nghe nhà vua còn đem binh quấy nhiễu ngoài biên; quận Trường Sa thật
khổ mà Nam quận lại còn khổ hơn. Làm như thế, nước nhà vua có chắc lợi được một mình
không? Tất là tướng tá quân sĩ chết nhiều, làm cho vợ người góa chồng, con người mô côi bố, cha
mẹ mất con, được một mất mười, trẫm không lòng nào nỡ làm như vậy.
Vả lại được đất nhà vua cũng không lấy làm to; được của nhà vua cũng không đủ làm giàu. Vậy
từ phía nam núi Lĩnh thì mặc ý nhà vua tự trị lấy. Nhưng nhà vua cứ xưng đế hiệu, hai bên cùng
là đế quốc, mà không sai sứ giao thông, thế chẳng hóa ra ganh nhau ư? Ganh nhau mà không
nhường, thì người nhân không thèm làm.
Trẫm nay xin cùng nhà vua gác bỏ điều cũ, từ nay trở đi, thông sứ như xưa. Vậy trẫm sai Lục Giả
sang đem ý trẫm khuyên nhà vua nên nghe, chớ làm chi nhiều sự cướp bóc tai hại.
Lời lẽ trong bức thư của Hán Văn Đế thực là nhân từ và tử tế. Cuộc bang giao hòa hảo này do sứ
giả nhà Hán đem thư sang đã khiến cho cõi lòng ông vua hiếu chiến nước ta phải cảm phục.
Triệu Vũ Đế liền phúc đáp bằng một bức thư khác, lời lẽ như sau:
Man d3i đại trưởng lão phu thần, Đà, muội tử tái bái, dâng thư lên hoàng đế bệ hạ, lão phu là kẻ
cô lại nước Việt; khi Hiếu Huệ hoàng đế lên ngôi, tình nghĩa không dứt, vẫn hậu đãi lão phu. Đến
khi Cao Hậu lâm triều, lại phân biệt ra Trung Hoa ngoại di; hạ lệnh cấm không được bán cho
Nam Việt những đồ vàng sắt và điền khí; còn ngựa, trâu, dê thì chỉ bán cho giống đực, chứ không
bán cho giống cái.
Lão phu ở phương xa mà không có vật cúng tế thì phải tội, vì thế có sai Nội sử Phan, Trung úy
Cao và Ngự sử Bình, ba lượt dâng thư sang Thượng quốc tạ quá, đều không trở về cả.
Lão phu lại phong văn4 rằng nhà Hán đem hủy hoại cả phần mộ lão phu cùng giết cả anh em tôn
tộc lão phu, cho nên có bàn riêng với chúng rằng nay trong đã không còn vẻ vang với nhà Hán,
ngoài lại không có gì hơn được nước Ngô, vậy có xưng đế hiệu; mà chẳng qua cũng chỉ là tự đế ở
nước mình mà không dám hại gì đến thiên hạ.
Cao Hậu nghe thấy thế, lấy làm tức giận, đem tước bỏ sổ Nam Việt đi, không cho thông sứ, lão
phu trộm nghĩ rằng hẳn vì Trường Sa vương gièm pha cho nên lão phu có đem binh đánh.
Lão phu ở nước Việt đã bốn mươi chín năm nay, bây giờ đã có cháu rồi, nhưng vẫn sớm khuya
trằn trọc, ăn không ngon, ngủ không yên mắt không dám trông sắc đẹp, tai không dám nghe đàn
vui, chỉ vì không được phụng thờ nhà Hán. Nay nhờ bệ hạ đoái thương, cho lại hiệu cũ, thông sứ
như xưa, lão phu nhờ ơn, dẫu có chết xuống cũng không nát.
Vậy xin cải hiệu từ đây và xin có cống phẩm phụng hiến hoàng đế bệ hạ.
Cùng với thư phúc đáp này, Triệu Vũ vương lại sai sứ sang cống nhà Hán: một đôi ngọc trắng,
10 bộ sừng tê giác, 500 con đồi mồi, 1.000 con chim trả, một đôi khổng tước, một hộp quế đố
(cà cuống).
Từ khi Triệu Vũ vương chịu bỏ đế hiệu, Nam Bắc lại mở cuộc bang giao hòa hiếu, không có
điều gì xích mích nữa.
Triệu Vũ Vương làm vua được hơn 70 năm, sau truyền ngôi cho cháu đích tôn tên là Hồ lên làm
vua, tức là Triệu Văn vương, tính tình nhu nhược không được kiên quyết như Vũ vương. Thời
vua Văn vương trị vì, vua nhà Hán sai người Trang Trợ sang dụ Văn vương vào chầu, nhưng
đình thần xin đừng đi, nên nhà vua cho thái tử Anh Tề đi thay, mãi đến khi Văn vương mất mới
về nối ngôi, tức là Triệu Minh vương.
Hồi ở bên Hán, Anh Tề có lấy người vợ lẽ là Cù Thị, và đẻ được một người con tên là Hưng. Khi
về Việt Nam làm vua, Cù thị5 được sắc phong làm hoàng hậu và Hưng làm thái tử.
Triệu Minh vương mất, thái tử Hưng lên nối ngôi, lấy hiệu là Triệu Ai vương.
Vua Hán, hồi ấy lại sai An quốc Thiếu Quý sang dụ vua Nam Việt vào chầu. Sứ giả Thiếu Quý
trước là tình nhân của Cù Thị, nên khi sang Nam Việt thông sứ, lại tư thông với Cù Thị và dỗ
dành Ai vương đem nước Nam Việt dâng về nhà Hán.
Quan Tể tướng Lữ Gia biết rõ ý định của Cù Thị và Ai vương, can ngăn mãi nhưng không được,
liền hợp với mấy vị đại thần, đem quân cấm binh vào giết sứ nhà Hán, Cù thị và Ai vương.
Việc này đến tai vua nhà Hán, Vũ đế liền sai Phục Ba Tướng quân Lộ Bác Đức và Dương Bộc
sang đánh Nam Việt. Cuộc bang giao hòa hảo không còn nữa, quan Thái phó Lữ Gia đem quân
chống lại không nổi, phải đem Triệu Dương vương chạy, quân Hán đuổi theo bắt được, vua tôi
đều bị hại cả.
Nước Nam Việt mất quyền tự chủ và bị người Tàu chiếm lấy cải là Giao Chỉ bộ, và chia làm 9
quận, đặt quan cai trị như các châu quận bên Tàu.
Cuộc bang giao Việt ‒ Hoa đã chấm dứt bằng những nét khá bi thảm trên những trang sử Việt.
Nước Nam Việt đã mất quyền tự chủ và sa vào một thời đại Bắc thuộc trong ngót một ngàn
năm.
Mối bang giao Việt Hoa trong thời đại tự
chủ
Trải qua một thời kỳ hơn ngàn năm Bắc thuộc, cuộc bang giao bình đẳng giữa hai nước không
còn nữa. Tuy vậy, trong thời kỳ lệ thuộc này, một người Việt Nam đầu tiên được thụ tước
phong của Bắc Triều là Khúc Thừa Dụ, quán tại làng Hồng Châu (Bình Giang và Ninh Giang, Hải
Dương). Khúc Thừa Dụ được vua Đường Chiêu Tuyên phong cho làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ
(năm Bính Dần, 906) để cai trị Giao Châu, sau lại gia phong làm Đồng bình chương sự.
Kế nghiệp họ Khúc (906-923) đến đời nhà Ngô (937-965); lúc ấy nước Tàu đang hồi loạn lạc,
nên cuộc thông sứ không có, vì các vua Tàu không rảnh tâm nghĩ đến miền Nam.
Ngô Vương Quyền đã khởi thủy đặt móng xây nền cho thời đại tự chủ của nước ta. Lâu đài tự
chủ này lại càng thêm vững bền khi Vạn Thắng vương Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn Thập nhị sứ
quân.
Năm Mậu Thìn (968), Vạn Thắng vương lên ngôi hoàng đế, tức là Tiên Hoàng đế, đặt quốc hiệu
là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.
Cuộc bang giao giữa Trung Hoa và Việt Nam chính thức khởi từ triều đại này. Năm Canh Ngọ
(970), Tiên Hoàng đặt niên hiệu là Thái Bình nguyên niên và đặt ra năm ngôi hoàng hậu.
Nguyễn Bặc được phong Định Quốc công, Lê Hoàn làm Thập đạo Tướng quân và con là Đinh
Liễn được phong làm Nam Việt vương.
Hồi này, bên Tàu ông Triệu Khuông Dẫn6 lên nối nghiệp nhà Hậu Chu tức là vua Thái Tổ nhà
Tống. Năm Canh Ngọ (970), Tống Triều sai tướng là Phan Mỹ sang đánh lấy Nam Hán. Vua
Tiên Hoàng sợ quân nhà Tống sang đánh, bèn sai sứ sang thông hiếu với Tống triều.
Năm Nhâm Thân (972), Tiên Hoàng lại sai Việt Nam vương là Liễn đem lễ vật sang cống nhà
Tống. Năm Quý Dậu (973) Tống Thái Tổ liền sai sứ sang phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao
Chỉ Quận vương và Nam Việt vương Đinh Liễn Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Sang
năm Bính Tý (975) Đinh Liễn lại được gia phong làm Giao Chỉ Quận vương. Từ đó, nước ta cứ
giữ lễ triều cống nước Tàu.
Nhưng một khi vua Đinh Tiên Hoàng băng, tự quân còn nhỏ dại lên kế nghiệp. Tống triều thừa
dịp ấy muốn sang lấy nước ta, mới hội đại binh ở gần biên giới. Trước bức tối hậu thư quỷ
quyệt của vua Thái Tông nhà Tống, Thập đạo Tướng quân là Lê Hoàn đã nhún mình lấy lời Vệ
vương Đinh Tuệ xin phong, để làm chước hoãn binh. Thư rằng:
... Đời đời nhờ lệnh Thiên triều bao tưởng, nước thì mếch về góc biển, được lĩnh chức Tiết chế ở
nơi mọi rợ, thường lo liệu việc tuế cống, không may nhà thần phúc bạc, gặp khi đức tiên thế tử
lộc thì ngọc lụa vội dâng, dám mong được phần trợ tế, nhưng tuy là thổ địa kế truyền, chưa được
lĩnh chức thụ phiên. Cha thần là Bộ Lĩnh, anh là Liễn, đều đội ơn Thiên triều, được dự phần khôn
ký7, giữ gìn cương vực, dám đâu có lòng phản bội. Cái công lao mồ hôi ngựa chưa có gì mà cái tin
buồn mù buổi sáng thoắt đến. Nhà thần sắp tan, có tang chưa đoạn thì các quận nội quân dân,
quan tướng, các bô lão phiên trấn đều đến trước gối đất đệm cỏ, xin thần tạm nắm quyền việc
quân lữ, thần đã ba bốn lần chối từ, họ cứ nằng nặc cố xin. Toan đợi tâu lại với bệ hạ, nhưng lo
rằng nếu để chậm thì cái thói ác độc của mường mọi, dân giảo quyệt trong núi động, không theo
cho vừa lòng nó sợ sinh biến chăng. Cho nên thần chỉn8 đã nhiếp9 chức Tiết độ hành quân Tư
mã, quyền lĩnh các việc trong châu, cúi trông xin được chân mệnh, để cho đủ chức với biệt phiên,
yên ủy tấm lòng tận trung của thần và tỏ cái lễ diên thưởng của Thiên triều, đặng thần đủ sức kế
nghiệp của cha ông và vỗ về mọi rợ nơi biên viễn. Ở cõi đồng trụ may chỉ đủ sức hãn10 ngự mà
dưới cửa khuyết được mãi mãi tỏ tấm lòng thành dâng cống, xin bệ hạ cúi xét tình đầu11, không
nỡ làm tội.
Thư này đưa sang nhà Tống sau khi Lê Hoàn nhờ bọn Phạm Cự Lạng12 suy tôn lên làm vua rồi.
Tuy vậy, trong thư vẫn nói dối là lời của Đinh Tuệ (đã bị truất xuống làm Vệ vương) xin phong
có ý để nhà Tống hoãn binh lại.
Vua Tống không nghe, sai sứ sang trách Đại Hành rằng sao lại được xưng đế, và lại nói:
− Nhà Đinh truyền tập đã ba đời rồi, vậy cho Đinh Tuệ làm thống soái, Lê Hoàn làm phó. Nhược
bằng Đinh Tuệ còn trẻ tuổi không làm được thì Lê Hoàn phải bắt mẹ con Đinh Tuệ sang chầu
Bắc triều, rồi sẽ phong quan tước cho Lê Hoàn.
Vua Đại Hành biết mưu nhà Tống, không chịu vâng lời, liền sửa sang mọi cách phòng bị. Tháng
ba năm Tân Tỵ (981), Lê Hoàn phá tan quân Tống ở Chi Lăng (Ôn Châu, Lạng Sơn) và chém
được tướng Tống là Hầu Nhân Bảo.
Quân ta tuy thắng trận nhưng vua Đại Hành sợ thế lực không chống với Tàu được lâu, bèn thi
hành một chính sách ngoại giao khôn khéo. Năm 982, nhà vua sai sứ sang nhà Tống thông hiếu
và báo tin về việc đánh thắng được Chiêm Thành.
Năm Thiên Phúc thứ 5 (985), sứ Tàu lại sang và khi về vua Đại Hành cho đưa rùa vàng và ngà
voi sang biếu, để xin lĩnh tiết trấn. Tháng mười năm sau, Tống triều sai chức Tả cổ khuyết là Lý
Nhược13 và Hữu cổ khuyết Quốc tử giám bác sĩ là Lý Giác đem chế sách sang phong cho Lê
Hoàn làm “Kim tử Quang lộc Đại phu kiêm hiệu Thái úy An Nam đô hộ Tĩnh Hải Quân Tiết độ
sứ, Kính triệu quân, Khai quốc hầu”.
Trong bài chế sách này, có những câu: “Sĩ Nhiếp là người thông minh, khai hóa cho dân tộc đất
Việt được yên ổn, Triệu Úy Đà là người kính thuận, tuân theo chiếu chỉ của nhà Hán mà không
trái, vỗ về dân di lạc để tỏ đức hóa của Trung triều.”
Lê Hoàn nhận tờ chế sách đó một cách rất kính cẩn và tiếp đãi sứ giả rất hậu, lại sai đem giả14
hai tướng của nhà Tống bắt được năm trước là bọn Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân.
Cùng năm ấy, Lê Hoàn lại sai sứ giả Ngô Quốc Ân đem đồ cống sang Tàu, nhân tiện tâu về việc
người Chiêm Thành là Bồ La Át đem họ hàng hơn 100 người sang xin nội phụ.
Năm Thiên Phúc thứ 7 (987), Tống Thái Tông phái Lý Giác sang sứ Việt Nam. Vua Đại Hành
liền sai Thiền sư Đỗ Pháp Thuận (tục gọi sư Thuận) cải trang giả làm lái đò ra đón ở chùa Sách
Giang. Sứ giả Lý Giác vốn là một nhà thơ, thấy trên sông từng đôi chim thiên nga tung tăng bơi
lội, bất giác nổi thi hứng, tức khẩu hai câu thơ:
Nga nga lưỡng nga nga,
Ngưỡng diện hà thiên nhai.
Thiền sư Đỗ Pháp Thuận ứng khẩu nối tiếp hai câu:
Bạch mao phô lục thủy,
Hồng trạo bài thanh ba.
……
Phải chăng đó là một mánh khóe tự kiêu trong cách giao thiệp của một người đã từng chiến
thắng về quân sự để nêu thanh danh cho Tổ quốc.
***
Cuộc bang giao Việt Hoa về đời nhà Lý (1009-1225)15, khởi đầu từ năm Canh Tuất (1010)
niên hiệu Thuận Thiên nguyên niên đời Lý Thái Tổ (1010-1028), Tống Chân Tông (998-1022)
cũng phong cho Lý Thái Tổ làm Giao Chỉ Quận vương. Rồi vào khoảng niên hiệu Thiên Hỷ
(1017-1021) lại gia phong làm Nam Bình Quận vương. Vua Lý Thái Tông (1028-1054), Lý
Thánh Tông (1054-1072)16 đổi quốc hiệu là Đại Việt đều thụ tước kể trên.
Đến đời Lý Nhân Tông, cuộc giao bang Việt Hoa đã trải qua một thời kỳ gay go nhất. Tống
Thần Tông (1067-1085)17 dùng Tể tướng Vương An Thạch đặt ra phép mới để cải tổ việc
chính trị nước Tàu. Vương An Thạch đặt ra ba phép về tài chính và hai phép về binh chính.
An Thạch có ý muốn lập công ngoài biên, bèn sai Lưu Di18 kinh lý19 việc đánh Giao Châu, Lưu
Di sai người đi biên các khe ngòi, đồn lũy, sửa binh khí, làm thuyền bè và lại cấm không cho
người ở châu huyện gần đấy đi lại buôn bán với người Giao Châu.
Lý triều thấy sự tình như thế, mới viết thư sang hỏi Tống triều, song Lưu Di giữ lại không để về
kinh, Lý triều tức giận, sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đan đem quân sang vây đánh Khâm Châu,
Liêm Châu và Ung Châu và giết hại quân, dân nhà Tống đến 10 vạn người, rồi lại bắt người lấy
của đem về nước.
Năm Bính Thìn (1076); quân Tống sang đánh báo thù. Lý Thường Kiệt đem binh cự địch, đánh
chẹn được quân Tống ở sông Như Nguyệt (làng Như Nguyệt ở Bắc Ninh, tức sông Cầu bây giờ).
Quân Tống đến đóng ở bờ sông Phú Lương.
Hai bên chiến đấu dữ dội, quân Tống không tiến lên được. Quân Tống bị chết quá nửa vì không
phục thủy thổ, nên phải lui về chiếm giữ châu Quảng Nguyên, châu Tư Lang, châu Tô, châu Mậu
và huyện Quảng Lang (thuộc hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn bây giờ).
Đến năm Mậu Ngọ (1078), Lý Nhân Tông sai sứ giả Đào Tôn Nguyên đưa voi sang cống nhà
Tống và đòi lại những châu huyện ở mạn Quảng Nguyên. Vua Tống bắt phải trả những người
châu Khâm, châu Liêm và châu Ung mà quân nhà Lý bắt về ngày trước, rồi mới trả châu huyện
cho nhà Lý. Vua ta y lời tha cho về cả, tổng số gồm 221 người thì vua nhà Tống trả lại châu
Quảng Nguyên.
Mùa hạ năm Giáp Tý (1084)20 Nhân Tông sai quan Binh bộ Thị lang là Lê Văn Thịnh sang nhà
Tống bàn việc chia địa giới. Lê Văn Thịnh phân giải mọi lẽ, nhà Tống lại trả nốt mấy huyện mà
trước còn giữ lại. Từ đó nước Tàu lại mở cuộc giao bang hòa hảo như cũ.
Năm Đinh Mão (1087), vua nhà Tống lại phong cho Nhân Tông làm Nam Bình vương. Đời vua
Lý Anh Tông (1138-1175)21, khoảng năm Giáp Thân (1164), Tống Hiếu Tông22 đổi Giao Chỉ
quận làm An Nam quốc và phong cho vua Anh Tông làm An Nam Quốc vương.
Nguyên trước kia, nước Tàu vẫn gọi ta là Giao Chỉ quận, sau đổi là Giao Châu, đến đời nhà
Đường (618-907) lại đặt là An Nam đô hộ phủ. Nhà Đinh (968-980) lên đặt là Đại Cồ Việt, vua
Lý Thánh Tông (1054-1072) đổi là Đại Việt. Nhưng nước Tàu vẫn phong cho vua ta là Giao Chỉ
Quận vương, đến đời Lý Anh Tông mới đổi là An Nam Quốc vương. Nước ta thành tên là nước
An Nam khởi đầu từ đấy.
Trong đời Tiền Lê (980-1009), nhà Lý (1009-1225)23, các triều vua vẫn thường theo gót nhà
Đinh, phái sứ giả sang cống hiến nước Tàu. Cống phẩm thời bấy giờ gồm có: vàng bạc, châu
báu, tê giác, ngà voi, bạch phấn y hương, giáng chân hương, trầm hương, tốc hương, mộc
hương, hắc tuyến hương, chỉ phiến, tự giáng hương, hạt cau (binh lang), sa nhân, chu sa, tô hợp
dầu, v.v..
***
Nhà Lý mất ngôi rồi, nhà Trần (1225-1400) lên làm vua ở An Nam. Bên Tàu, Mông Cổ đánh lấy
nhà Tống và từ đó tất cả nước Tàu thuộc về Mông Cổ cai trị.
Năm Đinh Tỵ (1257) đời vua Trần Thái Tông (1225-1258), tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp
Thai (Uriyangqatai)24 sai sứ sang bảo vua Trần Thái Tông về thần phục Mông Cổ. Thái Tông
không những đã không chịu, lại bắt giam sứ Mông Cổ rồi sai Trần Quốc Tuấn đem binh chống
giữ mạn Bắc. Lần này, Mông Cổ tràn sang nhưng bị thua phải rút về.
Vào khoảng niên hiệu Thiệu Long (1258-1272), Bảo Phù (1273-1278), đời Trần Thánh Tông
(1258-1278), vua Mông Cổ sai sứ phong vương cho Thánh Tông và buộc ba năm phải một lần
cống. Mà lệ cống phải chọn nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy toán số và thợ thuyền, mỗi hạng
ba người cùng với các đồ sản vật như là sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu và các vật lạ.
Năm Bính Dần (1266), sứ Mông Cổ lại sang, Thánh Tông sai quan sang Tàu đáp lễ và xin đừng
bắt nho sĩ, thầy bói và các thợ thuyền sang cống. Vua Mông Cổ ưng cho, nhưng lại bắt chịu 6
khoản khác: 1) Vua phải thân vào chầu; 2) Vua phải cho con hay em sang làm tin; 3) Biên sổ
dân sang nộp; 4) Phải chịu việc binh dịch; 5) Phải nộp thuế má; 6) Vẫn cứ đặt quan giám trị.
Thánh Tông lần lữa không chịu. Năm Tân Mùi (1271), Hốt Tất Liệt cho sứ sang dụ Thánh Tông
sang chầu, nhưng nhà vua cáo bệnh không đi. Năm sau, Nguyên chủ cho sứ sang tìm cột đồng
trụ của Mã Viện trồng ngày trước, nhưng Thánh Tông sai quan sang nói rằng: cột ấy lâu ngày
mất đi rồi, không biết đâu mà tìm nữa. Việc ấy cũng thôi.
Năm Ất Hợi (1275), Trần Thánh Tông nhận chiếu của nhà Nguyên, nhưng không chịu bái
mạng, lại không trọng đãi thiên sứ. Nguyên Thế Tổ25 biên thư sang trách. Thánh Tông sai Lê
Đà và Đinh Củng Viên sang sứ để biện bác. Thấy sứ thần Việt Nam vào chầu, vua Mông Cổ thét
hỏi:
– Các ngươi là sứ thần Nam Man phải không?
Đinh Củng Viên đáp:
– Tâu Thiên triều, xứ mọi rợ mới là “Man”. Nước Đại Việt chúng tôi là nước văn hiến xưa nay,
chưa từng tranh bờ lấn cõi nước nào, cũng không hà hiếp ai, không thể gọi là “Man” được.
Chúng tôi là sứ thần Đại Việt chứ không là sứ thần Nam Man.
Nguyên Thế Tổ thấy trả lời có vẻ xàm báng liền hỏi:
– Nam chúa nhà các ngươi không biết sức mình sao mà lại dám ngạo nghễ với Thiên triều?
Đinh Củng Viên cứng cỏi đáp:
– Chúa chúng tôi vẫn chịu thần phục Thiên triều, mới phái chúng tôi sang cống hiến, sao lại gọi
là ngạo nghễ?
– Vậy, sao chiếu thư của trẫm đến nơi, chúa các ngươi không chịu lạy mà cũng không trọng đãi
thiên sứ?
– Lễ bái chẳng qua là hư văn, che mắt thiên hạ. Chúa chúng thôi kính trọng Thiên triều, cốt ở
trong lòng. Nếu Thiên triều xử nhân đạo, thì dù ngoại quốc chẳng giữ lễ nhưng vẫn kính trọng
muôn phần. Không kính trọng thì bầy hương án, áo mũ lễ thì tình cũng chẳng ra gì. Và sứ thần
chỉ là một người Thiên triều phái sang. Bệ hạ là vua của một nước lớn, chúa chúng tôi cũng là
vua một nước nhỏ, chỉ chịu kém bệ hạ, lẽ nào kém cả bầy tôi Thiên triều.
Nguyên Thế Tổ hầm hầm quát:
– Quân trẫm đi đến đâu tan đến đấy, chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan. Cớ sao vua tôi nhà
ngươi lại dám chống cự?
Đinh Củng ...
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
VIỆT HOA BANG GIAO SỬ
Lời giới thiệu
Lời nói đầu
Những cuộc bang giao về thượng cổ thời đại
Mối bang giao Việt Hoa trong thời đại tự chủ
Mối bang giao Việt Hoa về thời đại cận kim
Sách tham khảo
CHÚ THÍCH
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN
Huyền Quang - Xuân Khôi - Đạt Chí
VIỆT HOA BANG GIAO SỬ
Bản quyền © Huyền Quang - Xuân Khôi - Đạt Chí
Lời giới thiệu
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân nào, chính vì vậy, việc bảo tồn,
gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác
được, nó thuộc về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố trong mỗi
chặng đường lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử không phải là việc thống kê sự kiện một
cách khô khan rời rạc. Bởi mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với
nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo nên lịch sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm dưới ách cai trị của thực
dân, đế quốc, nhưng con cháu bà Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi,
Quang Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không ngừng tranh đấu
hướng tới tương lai rộng mở vì độc lập tự do của đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển, ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ
sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật, điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững
chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần thiết để ghi khắc trong tâm trí
các thế hệ, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa
và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo về vai trò của từng giai đoạn,
triều đại và nhân vật - dù gây tranh cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử nước nhà hiện đang là mối
quan tâm hàng đầu của Nhà nước và toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát
triển Sử học Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã và đang kiên
trì con đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch
sử, góp phần giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần Sách Alpha - một doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan tâm tới
việc góp phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền thống văn hóa lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở không
ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu, công
trình nghiên cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân
lưu giữ. Để chung tay tái hiện một cách rõ nét những mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ
phần Sách Alpha đã triển khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất bản
lại và xuất bản mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu, sách nghiên cứu, sách văn học
có giá trị… về lịch sử, bước đầu hình thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một trong những sản phẩm đầu tiên của dự án này.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
Lời nói đầu
Nước Việt Nam ta, trải qua bốn nghìn năm lịch sử, đã có hàng chục thế kỷ nằm dưới quyền Bắc
thuộc, nền văn hóa Trung Hoa đã có một ảnh hưởng sâu xa vào văn hóa nước nhà. Hai dân tộc
Việt Hoa đã có một cuộc bang giao truyền thống trải qua mấy ngàn năm lịch sử.
Kể từ thượng cổ thời đại cho đến thời đại cận kim, cuộc bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa
lúc nào cũng tỏ ra rất khăng khít. Một khi những cuộc chiến tranh xẩy ra đã tạm yên rồi, người
Việt Nam lại phải cố gắng gây tình hòa hiếu với Trung Hoa cho yên mặt bắc. Với một số cư dân
quá ít ỏi so với Trung Hoa, người Việt chẳng dại gì lại gây hấn với ông bạn láng giềng to lớn và
mạnh mẽ hơn mình gấp trăm lần.
Người Việt đã thần phục Trung Hoa không phải đó là một dấu hiệu hèn kém, vì lịch sử đã hiển
nhiên chứng tỏ người Việt Nam lúc nào cũng có óc tự cường, không bao giờ chịu đi làm nô lệ
cho người khác. Chứng cớ là trong thời kỳ Bắc thuộc, rất nhiều người Việt đã nổi lên chống lại
người Tàu đặng mở ra những triều đại tự chủ mới. Bà Trưng, bà Triệu, Lý Bốn, Triệu Quang
Phục, Mai Thúc Loan, Khúc Thừa Dụ, Ngô Quyền là những nhân vật bằng xương bằng thịt hẳn
hoi đã nổi lên chống lại Trung Hoa và sức bành trướng của họ.
Kể từ nhà Ngô trở đi, nước Việt Nam ta mới thực sự hoàn toàn bước vào giai đoạn tự chủ.
Nước ta đã thoát hẳn cái ách ngoại xâm và lệ thuộc vào ông bạn to lớn phương Bắc. Tuy vậy,
không phải chúng ta đã dứt được hẳn những mối liên quan với Trung Hoa. Như trên chúng tôi
đã nói, nền văn hóa Trung Hoa đã có ảnh hưởng sâu xa mật thiết vào văn hóa nước nhà, cho
nên các triều đại tự chủ, Việt Nam vẫn phải mở mang cuộc bang giao hòa hiếu với họ.
Bị sáp nhập vào bản đồ Trung Hoa ngót 11 thế kỷ, ta đã noi theo Tàu kể từ tôn giáo, tập quán
và học thuật. Sức tiến hóa trong nước hoàn toàn dựa vào sức tiến hóa của ông bạn láng giềng.
Đối với Trung Hoa, ta chỉ biết bắt chước họ, chứ ngoài ra không thấy phát biểu được một sáng
kiến gì mới, ngoài việc Hàn Thuyên dựng cờ sáng tạo ra chữ Nôm về đời vua Nhân Tông nhà
Trần (1279-1284)1.
Về phương diện kinh tế và chính trị, nước Việt Nam ta ở vào tình trạng thua kém, giáp giới
phía nam có Chiêm Thành, Ai Lao, văn minh sơ khai, cho nên nước ta chỉ biết nhắm vào Trung
Hoa ở phía bắc để làm khuôn mẫu.
Từ khi Triệu Đà lập ra nước Nam Việt, đem văn minh Tàu sang truyền bá ở phương Nam, cho
nên từ đó về sau người nước mình đều nhiễm cái văn minh ấy. Học thì toàn dùng Tứ thư, Ngũ
kinh và triết lý Khổng, Mạnh. Giấy mực và sách vở cũng mua ở Tàu, hấp thụ nền văn hóa Trung
Hoa đến cội rễ, nên các vua ta cũng sợ Trung Hoa tuyệt giao với mình. Ta chỉ sợ nếu sợi dây
bang giao đứt, Trung Hoa sẽ không bán sách vở, điền khí và đồ sắt cho ta nữa.
Nước đã nhỏ bé, nên từ thế kỷ này qua thế kỷ khác, vua Việt Nam phải nhận tước phong của
Tàu. Mặc dầu những cuộc xung đột diễn ra, nhưng khi tấn kịch tranh thủ hạ màn, thì Việt Nam
lại sang Tàu và vua Việt Nam lại nhận tước phong. Mỗi một lần thắng trận xong, vua Việt Nam
muốn giữ tình giao hảo cố hữu ấy lại phải phái Tuế cống sứ sang Tàu. Tấn kịch mâu thuẫn ấy
cứ luôn luôn diễn ra, kẻ chiến thắng thường phải cầu hòa và thần phục kẻ chiến bại.
Hơn nữa, chúng ta lại luôn luôn phải vượt núi, qua sông, tiến đánh các nước Chiêm Thành, Ai
Lao, Chân Lạp. Nước Việt Nam phải đem hết sức mình ra để áp đảo và mưu cuộc bình trị ở
phương Nam, nên ta không thể luôn luôn có một lực lượng hùng hậu để cự với những đạo quân
dũng mãnh của Trung Hoa được.
Bởi vậy, chúng ta đã thần phục ông bạn Bắc phương chẳng qua là để tâm chú trọng vào cuộc
Nam tiến. Khuất phục kẻ mạnh để xúc tiến tự cường bên trong, đó chẳng qua cũng là mánh
khóe ngoại giao của các triều vua nước ta vậy.
Ở đây, chúng tôi không chú ý vạch lại những cuộc chiến tranh đầy gian lao và hiểm nghèo của
người dân Việt. Chúng tôi chỉ muốn phác họa lại một cách rõ ràng và tế nhị về những mối bang
giao Việt – Hoa kể từ khởi thủy đến thời đại cận kim.
Cái công việc đó là của những nhà học giả uyên thâm, quảng bác, sức học năm xe, nhưng ở đây
làm cái việc “đánh trống qua cửa nhà sấm”, chúng tôi chẳng qua mang một thành ý là nêu lên
một vấn đề và mong mỏi các bậc cao minh nghiên cứu kỹ càng hơn, ngõ hầu tạo nên một bộ
sách đầy đủ và hoàn toàn!
Kẻ viết những trang sử bang giao Hoa – Việt này, lúc nào cũng mang một thành ý là phơi bày
sự thực đã ghi trong sử sách. Chúng tôi chỉ muốn nói ra một sự thật của những cây bút vô tư,
chứ không bao giờ muốn khơi lại đống tro tàn đã tắt ngấm từ những triều đại trước. Xin đừng
ai ngộ nhận những quan điểm của chúng tôi mà kết thù vì những chuyện đã qua, không bao giờ
trở lại.
Trên dòng lịch sử, cái hay cũng như cái dở, chúng ta cần phải thẳng thắn nói ra, miễn sao bằng
một ngòi bút khách quan là hơn hết, Việt – Hoa bang giao sử chỉ là những tấn kịch đã hạ màn,
tuy vậy mối kết giao giữa anh em Hoa – Việt vẫn còn bền bỉ đời đời. Nhắc lại đây, chúng tôi e là
một chuyện thừa, dù sao cũng vẫn phải minh biện để khỏi có sự ngộ nhận.
Chúng tôi tin rằng, các bạn Trung Hoa, khi đọc những dòng này, đã hiểu rõ thành ý của tác giả.
Sau hết, chúng tôi xin ghi ở đây mấy lời thành thực cảm tạ bác sĩ Trần Văn Lai, đã có nhã ý cho
mượn sách làm tài liệu và các bạn khác đã chỉ bảo hay giúp đỡ chúng tôi, trong khi biên tập
cuốn sách nhỏ này.
Hà nội, ngày 6 tháng tư năm 1952.
Soạn giả: Huyền Quang, Xuân Khôi và Thi Đạt Chí
Những cuộc bang giao về thượng cổ thời
đại
Nước Việt Nam ta lập quốc từ đời Hồng Bàng, họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời. Nhưng xét
kỹ từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18, cả thảy có 20 ông vua, trị vì vừa
được 2622 năm tính từ Nhâm Tuất (2879) đến Quý Mão (258) trước kỷ nguyên.
Trong thời gian đó, cuộc bang giao của nước Việt ta vẫn còn lờ mờ, vì các sử gia coi đời Hồng
Bàng là một chuyện không được xác thực cho lắm.
Căn cứ vào sách vở cũ, sử Tàu có chép rằng năm Tân Mão (1109 trước kỷ nguyên) đời vua
Thành Vương nhà Chu, có nước Việt Thường ở phía nam xứ Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ
sang cống. Nhà Chu phải sai người thông ngôn mới hiểu được tiếng. Sau đấy, ông Chu Công
Đán lại phải chế ra xe chỉ nam để đưa sứ Việt Thường về nước. Duy có một điều là người ta
không hiểu đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là đất của ông tổ Hùng Vương của chúng ta
thời bấy giờ hay không?
Sau đó, Hùng Vương thứ 18 bị Thục Vương Phán đem quân sang đánh lấy mất nước Văn Lang,
Hùng Vương thua chạy, nhảy xuống giếng tự tử. Thục Vương chiếm được nước Văn Lang, tự
xưng là An Dương Vương, và cải quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô tại Phong Khê.
Trong khi An Dương Vương làm vua ở nước Âu Lạc thì bên Tàu vua Thủy Hoàng nhà Tần đã
nhất thống cả thiên hạ. Năm Đinh Hợi (214 trước kỷ nguyên) Thủy Hoàng sai tướng là Đô Thư
đem quân đi đánh lấy Bách Việt (vào quãng những tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, và Quảng Tây
bây giờ).
An Dương Vương thế yếu nên cũng phải cho sứ giả sang xin thần phục nhà Tần. Bấy giờ, nhà
Tần mới chia đất Bách Việt và đất Âu Lạc ra làm 3 quận gọi là: Nam Hải (Quảng Đông), Quế
Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bắc Việt bây giờ).
Năm Quý Tỵ (208 trước kỷ nguyên) là năm thứ 50 đời vua An Dương Vương. Triệu Đà, một
viên quan úy ở quận Nam Hải sang đánh lấy nước Âu Lạc lập ra nước Nam Việt.
Triệu Đà tự xưng là Vũ vương và đóng đô ở Phiên Ngung, gần thành Quảng Châu bây giờ.
Hồi ấy, bên Tàu, Lưu Bang đã diệt được nhà Tần, nhà Sở, thống nhất thiên hạ rồi, lên ngôi
hoàng đế tức là vua Cao Tổ nhà Hán.
Năm Ất Tỵ (196 trước kỷ nguyên), năm thứ 12 đời Vũ vương nhà Triệu, Cao Tổ có sai Lục Giả
sang phong cho Vũ vương. Vốn tính kiêu căng, không muốn thuần phục nhà Hán, khi sứ thần
Lục Giả sang tới nơi xin vào yết kiến, Vũ vương cứ ngồi xếp vành tròn không chịu đứng dậy
tiếp, Lục Giả thấy vậy liền nói:
− Nhà vua là người nước Tàu, mồ mả và thân thích đều ở cả châu Chân Định. Nay nhà Hán đã
làm vua thiên hạ, sai sứ sang phong vương cho nhà vua. Nếu nhà vua kháng cự sứ thần, không
chịu làm lễ thụ phong, Hán Đế tất phải tức giận, hủy hoại mồ mả và giết hại thân thích của nhà
vua rồi đem quân sang đánh thì nhà vua làm thế nào?
Vũ vương nghe thấy những lời bày tỏ của sứ Tàu Lục Giả, hoảng nhiên tỉnh ngộ, vội đứng lên
làm lễ và mỉm cười nói:
− Tiếc thay ta không được khởi nghiệp ở nước Tàu, chứ không thì ta cũng chẳng kém gì Hán
Đế!
Năm Mậu Ngọ (183 trước kỷ nguyên) vua Cao Tổ nhà Hán băng, bà Lữ Hậu lâm triều, rồi nghe
theo những lời gièm pha, cấm không cho người Hán buôn bán những đồ vàng, đồ sắt và đồ
điền khí với người Nam Việt. Vũ vương tức giận, liền tự lập thành Nam Việt hoàng đế và cử
binh mã sang đánh quận Trường Sa (tỉnh Hồ Nam bây giờ).
Khi Lữ Hậu mất, Hán Văn Đế lên ngôi, lại sai Lục Giả đưa thư sang khuyên Vũ Đế về thần phục
nhà Hán. Thư rằng:
Trẫm là con trắc thất vua Cao Đế, phụng mệnh ra trị nước Đại, vì non sông cách trở, thẹn mình
phác lậu2, cho nên lâu nay chưa từng đưa thư sang hỏi thăm nhà vua.
Từ khi đức Cao Đế, xa bỏ quần thần, đức Huệ Đế qua đời, bà Cao Hậu ra lâm triều, không may bị
bệnh, để cho họ Lữ chuyên quyền, toan đem con họ khác để nối vị đức Huệ Đế. May nhờ nhà Tôn
miếu linh thiêng các công thần ra sức dẹp kẻ tiếm nghịch.
Trẫm vì các vương hầu cùng bách quan cố ép, cho nên phải lên ngôi hoàng đế. Mới rồi trẫm nghe
nhà vua có đưa thư cho Long Lư Hầu, nhắn tin anh em họ hàng ở quận Châu Định; và xin bãi
binh ở quận Trường Sa.
Trẫm cũng nghe lời thư của nhà vua, đã ra lệnh cho Tướng quân Bắc Dương hầu bãi binh về.
Còn anh em họ hàng nhà vua ở Châu Định thì trẫm đã cho người thăm nom, lại sai sửa sang
phần mộ nhà vua, thật là tử tế.
Thế mà vừa rồi trẫm nghe nhà vua còn đem binh quấy nhiễu ngoài biên; quận Trường Sa thật
khổ mà Nam quận lại còn khổ hơn. Làm như thế, nước nhà vua có chắc lợi được một mình
không? Tất là tướng tá quân sĩ chết nhiều, làm cho vợ người góa chồng, con người mô côi bố, cha
mẹ mất con, được một mất mười, trẫm không lòng nào nỡ làm như vậy.
Vả lại được đất nhà vua cũng không lấy làm to; được của nhà vua cũng không đủ làm giàu. Vậy
từ phía nam núi Lĩnh thì mặc ý nhà vua tự trị lấy. Nhưng nhà vua cứ xưng đế hiệu, hai bên cùng
là đế quốc, mà không sai sứ giao thông, thế chẳng hóa ra ganh nhau ư? Ganh nhau mà không
nhường, thì người nhân không thèm làm.
Trẫm nay xin cùng nhà vua gác bỏ điều cũ, từ nay trở đi, thông sứ như xưa. Vậy trẫm sai Lục Giả
sang đem ý trẫm khuyên nhà vua nên nghe, chớ làm chi nhiều sự cướp bóc tai hại.
Lời lẽ trong bức thư của Hán Văn Đế thực là nhân từ và tử tế. Cuộc bang giao hòa hảo này do sứ
giả nhà Hán đem thư sang đã khiến cho cõi lòng ông vua hiếu chiến nước ta phải cảm phục.
Triệu Vũ Đế liền phúc đáp bằng một bức thư khác, lời lẽ như sau:
Man d3i đại trưởng lão phu thần, Đà, muội tử tái bái, dâng thư lên hoàng đế bệ hạ, lão phu là kẻ
cô lại nước Việt; khi Hiếu Huệ hoàng đế lên ngôi, tình nghĩa không dứt, vẫn hậu đãi lão phu. Đến
khi Cao Hậu lâm triều, lại phân biệt ra Trung Hoa ngoại di; hạ lệnh cấm không được bán cho
Nam Việt những đồ vàng sắt và điền khí; còn ngựa, trâu, dê thì chỉ bán cho giống đực, chứ không
bán cho giống cái.
Lão phu ở phương xa mà không có vật cúng tế thì phải tội, vì thế có sai Nội sử Phan, Trung úy
Cao và Ngự sử Bình, ba lượt dâng thư sang Thượng quốc tạ quá, đều không trở về cả.
Lão phu lại phong văn4 rằng nhà Hán đem hủy hoại cả phần mộ lão phu cùng giết cả anh em tôn
tộc lão phu, cho nên có bàn riêng với chúng rằng nay trong đã không còn vẻ vang với nhà Hán,
ngoài lại không có gì hơn được nước Ngô, vậy có xưng đế hiệu; mà chẳng qua cũng chỉ là tự đế ở
nước mình mà không dám hại gì đến thiên hạ.
Cao Hậu nghe thấy thế, lấy làm tức giận, đem tước bỏ sổ Nam Việt đi, không cho thông sứ, lão
phu trộm nghĩ rằng hẳn vì Trường Sa vương gièm pha cho nên lão phu có đem binh đánh.
Lão phu ở nước Việt đã bốn mươi chín năm nay, bây giờ đã có cháu rồi, nhưng vẫn sớm khuya
trằn trọc, ăn không ngon, ngủ không yên mắt không dám trông sắc đẹp, tai không dám nghe đàn
vui, chỉ vì không được phụng thờ nhà Hán. Nay nhờ bệ hạ đoái thương, cho lại hiệu cũ, thông sứ
như xưa, lão phu nhờ ơn, dẫu có chết xuống cũng không nát.
Vậy xin cải hiệu từ đây và xin có cống phẩm phụng hiến hoàng đế bệ hạ.
Cùng với thư phúc đáp này, Triệu Vũ vương lại sai sứ sang cống nhà Hán: một đôi ngọc trắng,
10 bộ sừng tê giác, 500 con đồi mồi, 1.000 con chim trả, một đôi khổng tước, một hộp quế đố
(cà cuống).
Từ khi Triệu Vũ vương chịu bỏ đế hiệu, Nam Bắc lại mở cuộc bang giao hòa hiếu, không có
điều gì xích mích nữa.
Triệu Vũ Vương làm vua được hơn 70 năm, sau truyền ngôi cho cháu đích tôn tên là Hồ lên làm
vua, tức là Triệu Văn vương, tính tình nhu nhược không được kiên quyết như Vũ vương. Thời
vua Văn vương trị vì, vua nhà Hán sai người Trang Trợ sang dụ Văn vương vào chầu, nhưng
đình thần xin đừng đi, nên nhà vua cho thái tử Anh Tề đi thay, mãi đến khi Văn vương mất mới
về nối ngôi, tức là Triệu Minh vương.
Hồi ở bên Hán, Anh Tề có lấy người vợ lẽ là Cù Thị, và đẻ được một người con tên là Hưng. Khi
về Việt Nam làm vua, Cù thị5 được sắc phong làm hoàng hậu và Hưng làm thái tử.
Triệu Minh vương mất, thái tử Hưng lên nối ngôi, lấy hiệu là Triệu Ai vương.
Vua Hán, hồi ấy lại sai An quốc Thiếu Quý sang dụ vua Nam Việt vào chầu. Sứ giả Thiếu Quý
trước là tình nhân của Cù Thị, nên khi sang Nam Việt thông sứ, lại tư thông với Cù Thị và dỗ
dành Ai vương đem nước Nam Việt dâng về nhà Hán.
Quan Tể tướng Lữ Gia biết rõ ý định của Cù Thị và Ai vương, can ngăn mãi nhưng không được,
liền hợp với mấy vị đại thần, đem quân cấm binh vào giết sứ nhà Hán, Cù thị và Ai vương.
Việc này đến tai vua nhà Hán, Vũ đế liền sai Phục Ba Tướng quân Lộ Bác Đức và Dương Bộc
sang đánh Nam Việt. Cuộc bang giao hòa hảo không còn nữa, quan Thái phó Lữ Gia đem quân
chống lại không nổi, phải đem Triệu Dương vương chạy, quân Hán đuổi theo bắt được, vua tôi
đều bị hại cả.
Nước Nam Việt mất quyền tự chủ và bị người Tàu chiếm lấy cải là Giao Chỉ bộ, và chia làm 9
quận, đặt quan cai trị như các châu quận bên Tàu.
Cuộc bang giao Việt ‒ Hoa đã chấm dứt bằng những nét khá bi thảm trên những trang sử Việt.
Nước Nam Việt đã mất quyền tự chủ và sa vào một thời đại Bắc thuộc trong ngót một ngàn
năm.
Mối bang giao Việt Hoa trong thời đại tự
chủ
Trải qua một thời kỳ hơn ngàn năm Bắc thuộc, cuộc bang giao bình đẳng giữa hai nước không
còn nữa. Tuy vậy, trong thời kỳ lệ thuộc này, một người Việt Nam đầu tiên được thụ tước
phong của Bắc Triều là Khúc Thừa Dụ, quán tại làng Hồng Châu (Bình Giang và Ninh Giang, Hải
Dương). Khúc Thừa Dụ được vua Đường Chiêu Tuyên phong cho làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ
(năm Bính Dần, 906) để cai trị Giao Châu, sau lại gia phong làm Đồng bình chương sự.
Kế nghiệp họ Khúc (906-923) đến đời nhà Ngô (937-965); lúc ấy nước Tàu đang hồi loạn lạc,
nên cuộc thông sứ không có, vì các vua Tàu không rảnh tâm nghĩ đến miền Nam.
Ngô Vương Quyền đã khởi thủy đặt móng xây nền cho thời đại tự chủ của nước ta. Lâu đài tự
chủ này lại càng thêm vững bền khi Vạn Thắng vương Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn Thập nhị sứ
quân.
Năm Mậu Thìn (968), Vạn Thắng vương lên ngôi hoàng đế, tức là Tiên Hoàng đế, đặt quốc hiệu
là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.
Cuộc bang giao giữa Trung Hoa và Việt Nam chính thức khởi từ triều đại này. Năm Canh Ngọ
(970), Tiên Hoàng đặt niên hiệu là Thái Bình nguyên niên và đặt ra năm ngôi hoàng hậu.
Nguyễn Bặc được phong Định Quốc công, Lê Hoàn làm Thập đạo Tướng quân và con là Đinh
Liễn được phong làm Nam Việt vương.
Hồi này, bên Tàu ông Triệu Khuông Dẫn6 lên nối nghiệp nhà Hậu Chu tức là vua Thái Tổ nhà
Tống. Năm Canh Ngọ (970), Tống Triều sai tướng là Phan Mỹ sang đánh lấy Nam Hán. Vua
Tiên Hoàng sợ quân nhà Tống sang đánh, bèn sai sứ sang thông hiếu với Tống triều.
Năm Nhâm Thân (972), Tiên Hoàng lại sai Việt Nam vương là Liễn đem lễ vật sang cống nhà
Tống. Năm Quý Dậu (973) Tống Thái Tổ liền sai sứ sang phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao
Chỉ Quận vương và Nam Việt vương Đinh Liễn Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Sang
năm Bính Tý (975) Đinh Liễn lại được gia phong làm Giao Chỉ Quận vương. Từ đó, nước ta cứ
giữ lễ triều cống nước Tàu.
Nhưng một khi vua Đinh Tiên Hoàng băng, tự quân còn nhỏ dại lên kế nghiệp. Tống triều thừa
dịp ấy muốn sang lấy nước ta, mới hội đại binh ở gần biên giới. Trước bức tối hậu thư quỷ
quyệt của vua Thái Tông nhà Tống, Thập đạo Tướng quân là Lê Hoàn đã nhún mình lấy lời Vệ
vương Đinh Tuệ xin phong, để làm chước hoãn binh. Thư rằng:
... Đời đời nhờ lệnh Thiên triều bao tưởng, nước thì mếch về góc biển, được lĩnh chức Tiết chế ở
nơi mọi rợ, thường lo liệu việc tuế cống, không may nhà thần phúc bạc, gặp khi đức tiên thế tử
lộc thì ngọc lụa vội dâng, dám mong được phần trợ tế, nhưng tuy là thổ địa kế truyền, chưa được
lĩnh chức thụ phiên. Cha thần là Bộ Lĩnh, anh là Liễn, đều đội ơn Thiên triều, được dự phần khôn
ký7, giữ gìn cương vực, dám đâu có lòng phản bội. Cái công lao mồ hôi ngựa chưa có gì mà cái tin
buồn mù buổi sáng thoắt đến. Nhà thần sắp tan, có tang chưa đoạn thì các quận nội quân dân,
quan tướng, các bô lão phiên trấn đều đến trước gối đất đệm cỏ, xin thần tạm nắm quyền việc
quân lữ, thần đã ba bốn lần chối từ, họ cứ nằng nặc cố xin. Toan đợi tâu lại với bệ hạ, nhưng lo
rằng nếu để chậm thì cái thói ác độc của mường mọi, dân giảo quyệt trong núi động, không theo
cho vừa lòng nó sợ sinh biến chăng. Cho nên thần chỉn8 đã nhiếp9 chức Tiết độ hành quân Tư
mã, quyền lĩnh các việc trong châu, cúi trông xin được chân mệnh, để cho đủ chức với biệt phiên,
yên ủy tấm lòng tận trung của thần và tỏ cái lễ diên thưởng của Thiên triều, đặng thần đủ sức kế
nghiệp của cha ông và vỗ về mọi rợ nơi biên viễn. Ở cõi đồng trụ may chỉ đủ sức hãn10 ngự mà
dưới cửa khuyết được mãi mãi tỏ tấm lòng thành dâng cống, xin bệ hạ cúi xét tình đầu11, không
nỡ làm tội.
Thư này đưa sang nhà Tống sau khi Lê Hoàn nhờ bọn Phạm Cự Lạng12 suy tôn lên làm vua rồi.
Tuy vậy, trong thư vẫn nói dối là lời của Đinh Tuệ (đã bị truất xuống làm Vệ vương) xin phong
có ý để nhà Tống hoãn binh lại.
Vua Tống không nghe, sai sứ sang trách Đại Hành rằng sao lại được xưng đế, và lại nói:
− Nhà Đinh truyền tập đã ba đời rồi, vậy cho Đinh Tuệ làm thống soái, Lê Hoàn làm phó. Nhược
bằng Đinh Tuệ còn trẻ tuổi không làm được thì Lê Hoàn phải bắt mẹ con Đinh Tuệ sang chầu
Bắc triều, rồi sẽ phong quan tước cho Lê Hoàn.
Vua Đại Hành biết mưu nhà Tống, không chịu vâng lời, liền sửa sang mọi cách phòng bị. Tháng
ba năm Tân Tỵ (981), Lê Hoàn phá tan quân Tống ở Chi Lăng (Ôn Châu, Lạng Sơn) và chém
được tướng Tống là Hầu Nhân Bảo.
Quân ta tuy thắng trận nhưng vua Đại Hành sợ thế lực không chống với Tàu được lâu, bèn thi
hành một chính sách ngoại giao khôn khéo. Năm 982, nhà vua sai sứ sang nhà Tống thông hiếu
và báo tin về việc đánh thắng được Chiêm Thành.
Năm Thiên Phúc thứ 5 (985), sứ Tàu lại sang và khi về vua Đại Hành cho đưa rùa vàng và ngà
voi sang biếu, để xin lĩnh tiết trấn. Tháng mười năm sau, Tống triều sai chức Tả cổ khuyết là Lý
Nhược13 và Hữu cổ khuyết Quốc tử giám bác sĩ là Lý Giác đem chế sách sang phong cho Lê
Hoàn làm “Kim tử Quang lộc Đại phu kiêm hiệu Thái úy An Nam đô hộ Tĩnh Hải Quân Tiết độ
sứ, Kính triệu quân, Khai quốc hầu”.
Trong bài chế sách này, có những câu: “Sĩ Nhiếp là người thông minh, khai hóa cho dân tộc đất
Việt được yên ổn, Triệu Úy Đà là người kính thuận, tuân theo chiếu chỉ của nhà Hán mà không
trái, vỗ về dân di lạc để tỏ đức hóa của Trung triều.”
Lê Hoàn nhận tờ chế sách đó một cách rất kính cẩn và tiếp đãi sứ giả rất hậu, lại sai đem giả14
hai tướng của nhà Tống bắt được năm trước là bọn Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân.
Cùng năm ấy, Lê Hoàn lại sai sứ giả Ngô Quốc Ân đem đồ cống sang Tàu, nhân tiện tâu về việc
người Chiêm Thành là Bồ La Át đem họ hàng hơn 100 người sang xin nội phụ.
Năm Thiên Phúc thứ 7 (987), Tống Thái Tông phái Lý Giác sang sứ Việt Nam. Vua Đại Hành
liền sai Thiền sư Đỗ Pháp Thuận (tục gọi sư Thuận) cải trang giả làm lái đò ra đón ở chùa Sách
Giang. Sứ giả Lý Giác vốn là một nhà thơ, thấy trên sông từng đôi chim thiên nga tung tăng bơi
lội, bất giác nổi thi hứng, tức khẩu hai câu thơ:
Nga nga lưỡng nga nga,
Ngưỡng diện hà thiên nhai.
Thiền sư Đỗ Pháp Thuận ứng khẩu nối tiếp hai câu:
Bạch mao phô lục thủy,
Hồng trạo bài thanh ba.
……
Phải chăng đó là một mánh khóe tự kiêu trong cách giao thiệp của một người đã từng chiến
thắng về quân sự để nêu thanh danh cho Tổ quốc.
***
Cuộc bang giao Việt Hoa về đời nhà Lý (1009-1225)15, khởi đầu từ năm Canh Tuất (1010)
niên hiệu Thuận Thiên nguyên niên đời Lý Thái Tổ (1010-1028), Tống Chân Tông (998-1022)
cũng phong cho Lý Thái Tổ làm Giao Chỉ Quận vương. Rồi vào khoảng niên hiệu Thiên Hỷ
(1017-1021) lại gia phong làm Nam Bình Quận vương. Vua Lý Thái Tông (1028-1054), Lý
Thánh Tông (1054-1072)16 đổi quốc hiệu là Đại Việt đều thụ tước kể trên.
Đến đời Lý Nhân Tông, cuộc giao bang Việt Hoa đã trải qua một thời kỳ gay go nhất. Tống
Thần Tông (1067-1085)17 dùng Tể tướng Vương An Thạch đặt ra phép mới để cải tổ việc
chính trị nước Tàu. Vương An Thạch đặt ra ba phép về tài chính và hai phép về binh chính.
An Thạch có ý muốn lập công ngoài biên, bèn sai Lưu Di18 kinh lý19 việc đánh Giao Châu, Lưu
Di sai người đi biên các khe ngòi, đồn lũy, sửa binh khí, làm thuyền bè và lại cấm không cho
người ở châu huyện gần đấy đi lại buôn bán với người Giao Châu.
Lý triều thấy sự tình như thế, mới viết thư sang hỏi Tống triều, song Lưu Di giữ lại không để về
kinh, Lý triều tức giận, sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đan đem quân sang vây đánh Khâm Châu,
Liêm Châu và Ung Châu và giết hại quân, dân nhà Tống đến 10 vạn người, rồi lại bắt người lấy
của đem về nước.
Năm Bính Thìn (1076); quân Tống sang đánh báo thù. Lý Thường Kiệt đem binh cự địch, đánh
chẹn được quân Tống ở sông Như Nguyệt (làng Như Nguyệt ở Bắc Ninh, tức sông Cầu bây giờ).
Quân Tống đến đóng ở bờ sông Phú Lương.
Hai bên chiến đấu dữ dội, quân Tống không tiến lên được. Quân Tống bị chết quá nửa vì không
phục thủy thổ, nên phải lui về chiếm giữ châu Quảng Nguyên, châu Tư Lang, châu Tô, châu Mậu
và huyện Quảng Lang (thuộc hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn bây giờ).
Đến năm Mậu Ngọ (1078), Lý Nhân Tông sai sứ giả Đào Tôn Nguyên đưa voi sang cống nhà
Tống và đòi lại những châu huyện ở mạn Quảng Nguyên. Vua Tống bắt phải trả những người
châu Khâm, châu Liêm và châu Ung mà quân nhà Lý bắt về ngày trước, rồi mới trả châu huyện
cho nhà Lý. Vua ta y lời tha cho về cả, tổng số gồm 221 người thì vua nhà Tống trả lại châu
Quảng Nguyên.
Mùa hạ năm Giáp Tý (1084)20 Nhân Tông sai quan Binh bộ Thị lang là Lê Văn Thịnh sang nhà
Tống bàn việc chia địa giới. Lê Văn Thịnh phân giải mọi lẽ, nhà Tống lại trả nốt mấy huyện mà
trước còn giữ lại. Từ đó nước Tàu lại mở cuộc giao bang hòa hảo như cũ.
Năm Đinh Mão (1087), vua nhà Tống lại phong cho Nhân Tông làm Nam Bình vương. Đời vua
Lý Anh Tông (1138-1175)21, khoảng năm Giáp Thân (1164), Tống Hiếu Tông22 đổi Giao Chỉ
quận làm An Nam quốc và phong cho vua Anh Tông làm An Nam Quốc vương.
Nguyên trước kia, nước Tàu vẫn gọi ta là Giao Chỉ quận, sau đổi là Giao Châu, đến đời nhà
Đường (618-907) lại đặt là An Nam đô hộ phủ. Nhà Đinh (968-980) lên đặt là Đại Cồ Việt, vua
Lý Thánh Tông (1054-1072) đổi là Đại Việt. Nhưng nước Tàu vẫn phong cho vua ta là Giao Chỉ
Quận vương, đến đời Lý Anh Tông mới đổi là An Nam Quốc vương. Nước ta thành tên là nước
An Nam khởi đầu từ đấy.
Trong đời Tiền Lê (980-1009), nhà Lý (1009-1225)23, các triều vua vẫn thường theo gót nhà
Đinh, phái sứ giả sang cống hiến nước Tàu. Cống phẩm thời bấy giờ gồm có: vàng bạc, châu
báu, tê giác, ngà voi, bạch phấn y hương, giáng chân hương, trầm hương, tốc hương, mộc
hương, hắc tuyến hương, chỉ phiến, tự giáng hương, hạt cau (binh lang), sa nhân, chu sa, tô hợp
dầu, v.v..
***
Nhà Lý mất ngôi rồi, nhà Trần (1225-1400) lên làm vua ở An Nam. Bên Tàu, Mông Cổ đánh lấy
nhà Tống và từ đó tất cả nước Tàu thuộc về Mông Cổ cai trị.
Năm Đinh Tỵ (1257) đời vua Trần Thái Tông (1225-1258), tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp
Thai (Uriyangqatai)24 sai sứ sang bảo vua Trần Thái Tông về thần phục Mông Cổ. Thái Tông
không những đã không chịu, lại bắt giam sứ Mông Cổ rồi sai Trần Quốc Tuấn đem binh chống
giữ mạn Bắc. Lần này, Mông Cổ tràn sang nhưng bị thua phải rút về.
Vào khoảng niên hiệu Thiệu Long (1258-1272), Bảo Phù (1273-1278), đời Trần Thánh Tông
(1258-1278), vua Mông Cổ sai sứ phong vương cho Thánh Tông và buộc ba năm phải một lần
cống. Mà lệ cống phải chọn nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy toán số và thợ thuyền, mỗi hạng
ba người cùng với các đồ sản vật như là sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu và các vật lạ.
Năm Bính Dần (1266), sứ Mông Cổ lại sang, Thánh Tông sai quan sang Tàu đáp lễ và xin đừng
bắt nho sĩ, thầy bói và các thợ thuyền sang cống. Vua Mông Cổ ưng cho, nhưng lại bắt chịu 6
khoản khác: 1) Vua phải thân vào chầu; 2) Vua phải cho con hay em sang làm tin; 3) Biên sổ
dân sang nộp; 4) Phải chịu việc binh dịch; 5) Phải nộp thuế má; 6) Vẫn cứ đặt quan giám trị.
Thánh Tông lần lữa không chịu. Năm Tân Mùi (1271), Hốt Tất Liệt cho sứ sang dụ Thánh Tông
sang chầu, nhưng nhà vua cáo bệnh không đi. Năm sau, Nguyên chủ cho sứ sang tìm cột đồng
trụ của Mã Viện trồng ngày trước, nhưng Thánh Tông sai quan sang nói rằng: cột ấy lâu ngày
mất đi rồi, không biết đâu mà tìm nữa. Việc ấy cũng thôi.
Năm Ất Hợi (1275), Trần Thánh Tông nhận chiếu của nhà Nguyên, nhưng không chịu bái
mạng, lại không trọng đãi thiên sứ. Nguyên Thế Tổ25 biên thư sang trách. Thánh Tông sai Lê
Đà và Đinh Củng Viên sang sứ để biện bác. Thấy sứ thần Việt Nam vào chầu, vua Mông Cổ thét
hỏi:
– Các ngươi là sứ thần Nam Man phải không?
Đinh Củng Viên đáp:
– Tâu Thiên triều, xứ mọi rợ mới là “Man”. Nước Đại Việt chúng tôi là nước văn hiến xưa nay,
chưa từng tranh bờ lấn cõi nước nào, cũng không hà hiếp ai, không thể gọi là “Man” được.
Chúng tôi là sứ thần Đại Việt chứ không là sứ thần Nam Man.
Nguyên Thế Tổ thấy trả lời có vẻ xàm báng liền hỏi:
– Nam chúa nhà các ngươi không biết sức mình sao mà lại dám ngạo nghễ với Thiên triều?
Đinh Củng Viên cứng cỏi đáp:
– Chúa chúng tôi vẫn chịu thần phục Thiên triều, mới phái chúng tôi sang cống hiến, sao lại gọi
là ngạo nghễ?
– Vậy, sao chiếu thư của trẫm đến nơi, chúa các ngươi không chịu lạy mà cũng không trọng đãi
thiên sứ?
– Lễ bái chẳng qua là hư văn, che mắt thiên hạ. Chúa chúng thôi kính trọng Thiên triều, cốt ở
trong lòng. Nếu Thiên triều xử nhân đạo, thì dù ngoại quốc chẳng giữ lễ nhưng vẫn kính trọng
muôn phần. Không kính trọng thì bầy hương án, áo mũ lễ thì tình cũng chẳng ra gì. Và sứ thần
chỉ là một người Thiên triều phái sang. Bệ hạ là vua của một nước lớn, chúa chúng tôi cũng là
vua một nước nhỏ, chỉ chịu kém bệ hạ, lẽ nào kém cả bầy tôi Thiên triều.
Nguyên Thế Tổ hầm hầm quát:
– Quân trẫm đi đến đâu tan đến đấy, chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi tan. Cớ sao vua tôi nhà
ngươi lại dám chống cự?
Đinh Củng ...
 





