NHẮC BẠN HÀNG NGÀY

Tài nguyên Thư viện

Ảnh ngẫu nhiên

Z7379354547305_389637c4d51027980860d8ffded866f4.jpg Z7379354547061_50a61080129034e531db5abff4381864.jpg Z7379354465935_9e7c24ac6bd32c6ccb818cd6a8e2cc7f.jpg Z7367613615834_dce697759d2f8ebdc5aac05126c67502.jpg Z7367613501871_523d9ebfb02944263e7ca9008989c953.jpg Z7367613481393_45f8822b6eb62e2d5c0ab0789145f0c9.jpg

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • DANH NGÔN VỀ SÁCH

    “Chẳng người bạn nào thầm lặng và chung thủy như sách. Chẳng người cố vấn nào gần gũi và thông thái vượt bậc như sách. Sách cũng chính là người thầy kiên nhẫn nhất của con người.” – Charles W. Eliot - Robertson Davies.”

    NHẠC TẾT 2026

    Truyền thống dân tộc

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 17h:18' 18-04-2024
    Dung lượng: 561.9 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Truyền Thống Dân Tộc
    Lê Văn Siêu

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Table of Contents
    VỀ TÁC GIẢ
    THAY LỜI DẪN
    QUAN NIỆM NHÂN SINH
    1. SỐNG LÀ CHỊU ĐỰNG
    2. SỐNG LÀ SỬA SOẠN CHO CÁI CHẾT
    3. PHÚC VÀ ĐỨC
    4. ĐỜI SỐNG TÌNH NGHĨA
    5. NHÀ Ở
    6. CUỘC SỐNG THANH THẢN
    7. ĐỜI SỐNG GIẢN DỊ
    8. TRIỂN VỌNG

    VỀ TÁC GIẢ
    Lê Văn Siêu là Nhà văn, nhà báo, sinh năm 1911 ở thành phố Hà Nội, có sách ghi năm sinh
    ông 1912.
    Thuở nhỏ học ở Hà Nội, tốt nghiệp trường Công nghệ thực hành ở Hải Phòng, năm 1932 làm
    việc tại sở công chánh Hà Nội (Đốc công nhà máy gạch Đáp Cầu). Những năm 40 cộng tác với
    nhóm Hàn Thuyên của Nguyễn Đức Quỳnh, cùng Trương Tửu, Đặng Thái Mai... Viết báo Tiếng
    Trẻ và một số sách về thanh niên và thực nghiệp do nhà Hàn Thuyên xuất bản trước Thế chiến
    II. Năm 1934 - 1936 làm chánh văn phòng nghiên cứu kĩ thuật Sở Hỏa xa Hồ Nam - Quảng Tây
    (TQ).
    Khoảng các năm 1938-1944 ông chuyển về làm việc ở sở công chánh Hà Nội. Thời gian này
    ông hợp tác chặt chẽ với nhóm Hàn Thuyên viết các loại sách Tân văn hóa, giữ chức trưởng
    ban khánh tiết Hội truyền bá quốc ngữ Hải Phòng.
    Sau toàn quốc kháng chiến, tản cư ra vùng Tự do tham gia Hội đồng chuyên môn sản xuất kĩ
    nghệ ở liên khu III... Năm 1947 bị Pháp hành quân bắt về Hà Nội. Năm 1949 chuyển vào sống ở
    Sài Gòn với nghề thầu khoán, đến năm 1952 ông làm chủ bút báo Mới của Phan Văn Tươi, rồi
    tuần báo Phương Đông cho đến hiệp định Genève. Từ năm 1959 chủ bút các báo Cách mạng
    Quốc gia, nguyệt san Sáng dội Miền Nam. Năm 1967 ông được mời dạy một số giờ tại Đại học
    Vạn Hạnh, Cao Đẳng Phật học Huệ Nghiêm ở Sài Gòn...
    Ông mất năm 1995 tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
    Tác phẩm
    Các tác phẩm chính đã xuất bản:
    Hợp lí hóa Taylor (Hàn Thuyên, 1940).
    Thanh niên và thực nghiệp (Hàn Thuyên, 1940)
    Luân lí và thực nghiệp (nt, 1941)
    Tương lai kĩ nghệ Việt Nam (nt, 1942)
    Học để làm gì? (1957)
    Văn minh Việt Nam (1954, Sài Gòn)
    Nguồn gốc văn học (Thế giới, 1956 Sài Gòn)
    Tân Xuân tùy bút (Nguyễn Đình Vượng, 1960)
    Giai nhân kì ngộ (Phan Châu Trinh, chú thích, 1958 Sài Gòn)
    Văn học đời Lý (1957, Sài Gòn)
    Nếp sống tình cảm của người Việt Nam (1955, Sài Gòn)
    Việt Nam văn minh sử cương (1967)
    Quốc sư Vạn Hạnh (kịch, 1967)
    Văn học sử thời kháng Pháp (1973, Sài Gòn)
    Sửa đổi lề lối làm việc (1958)
    Việt Nam văn minh sử lược khảo (1972)
    Truyền thống dân tộc (1968)

    THAY LỜI DẪN
    CUỘC ĐÀM ĐẠO VỀ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
    Tại trường Thanh Niên Phụng sự xã hội.
    Thưa quý bạn.
    Câu chuyện tôi nói với quý bạn hôm nay chắc sẽ dài. Không dài sao được khi đề cập đến
    những truyền thống của cả một dân tộc đã có gần năm ngàn năm lịch sử?
    Tôi biết rằng quý bạn sẽ không xem xét vấn đề này theo con mắt của những nhà khảo cứu
    văn hóa. Mà sẽ chỉ cần biết những đặc tính cố hữu của nhân dân, để mai mốt đây có dịp tiếp
    xúc với nhân dân thì quý bạn không đến nỗi ngỡ ngàng như những người ngoại quốc, và công
    tác phụng sự xã hội của quý bạn mới có hy vọng nào chắc chắn thành công.
    Nhưng cũng bởi ý muốn của quý bạn là như thế, nên tôi lại thấy cần phải trình bầy vấn đề
    cho thật giản dị và khúc chiết để không có gì ngộ nhận được nữa. Hễ ngộ nhận thì lạc đường.
    Hễ lạc đường thì thất bại và tai hại.
    KHÔNG THỂ TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC Ở NHỮNG VẬT THỂ THUỘC HÌNH
    THỨC
    Chẳng hạn như người Việt mình xưa, đàn ông nho sĩ thì để móng tay dài uốn cong lên, lưa
    thưa vài sợi râu ở cầm và mép, đầu búi tóc, quấn khăn, còn đàn bà thì răng đen, chít khăn, tóc
    để đuôi gà, vận áo tứ thân mầu nâu non, vá vai, lại mặc yếm và váy.
    Nếu bảo rằng Y phục ấy ở hình thức là truyền thống rồi, thì hết thảy người mình hiện nay đã
    xa lìa truyền thống rồi hay sao? Vả chăng đã lấy đâu làm chắc những y phục trang phục ấy đã
    hoàn toàn là của mình từ nguồn gốc, khi nhớ lại rằng từ đời Minh (đầu thế kỷ XV) kẻ giặc mạnh
    đã từng bắt người mình phải ăn vận theo họ. Và nếu chịu khó tìm tòi đến tận hồi không bị ảnh
    hưởng ngoại lai, thì y phục cũ của chúng ta phải là y phục thiên nhiên mới đúng, như hết thảy
    mọi giống dân khác.
    Lại chẳng hạn như những món ăn uống: miếng trầu, điếu thuốc lào, chén nước mắm, bát
    phở, mắm cá, mắm tôm v.v... có thể rằng gần như cả toàn dân tộc đã quen giọng để nhìn nhận
    những món ấy là ngon, là thú. Nhưng không thể nói đùa dai để người ta tưởng thật rằng đấy là
    dân tộc tính, đấy là cái gì bất biến trong thị hiếu của người Việt Nam. Bởi có nhiều món, nhiều
    địa phương và nhiều người không dùng. Chẳng lẽ dân tộc tính lại không có ở địa phương và
    những người ấy. Huống chi các món ăn uống không phải có người Việt Nam trên trái đất này là
    có liền ngay theo thể cách mà ta thấy. Nó đã được hình thành qua rất lâu đời và chịu cũng đã
    rất nhiều ảnh hưởng. Nó thực là nguyên nhân để uốn nắn thị hiếu nhưng nó vẫn là kết quả của
    thị hiếu nữa. Giá trị của nó là những gì lạ miệng để giới thiệu cho những du khách. Còn nói rằng
    nó là dân tộc tính, ấy là nói đùa, và đùa trong khi người ta thao thức đi tìm truyền thống dân
    tộc, ấy là đùa mỉa.
    Quan trọng hơn nữa là nhà ở. Nhà ở có biểu thị một lề thói sống chung của đông đảo nhân
    dân, cả về vật chất lẫn tinh thần và tâm linh, biểu thị một khả năng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, và
    biểu thị cả những ước vọng của người ta nữa. Nó là cái áo của một gia đình, áo dùng cho tất cả
    4 mùa và thật lâu dài, năm này qua năm khác, dùng cho tất cả mọi người, già trẻ lớn bé, cả sống
    và chết nữa, dùng cả ban ngày lẫn ban đêm, cả ngày thường lẫn ngày giỗ Tết, vừa bền bỉ, vừa
    cần đẹp mắt, vừa cần thoải mái. Tất nhiên nó chứa đựng trong nó cả một kho tàng đặc tính dân
    tộc.
    Nhưng bởi cuộc sống trong dòng dài lịch sử có chịu nhiều ảnh hưởng ngoại lai, mà cái nhà
    lại trực tiếp chịu đựng nhiều hơn và trước hơn cái gì khác, nên khó mà phân biệt nổi những đặc
    tính cá biệt nào của mình trong một bộ phận nào của cái nhà.
    Vả chăng, như hiện nay, có thiếu gì người không ở trong những nhà kiểu cũ nữa. Liệu dễ

    thường họ không còn dân tộc tính trong người sao? Và mai mốt đây có thể kỹ thuật đồ nhựa
    thay thế được đồ gỗ, đồ sắt, cái nhà có thể sẽ khoác một hình thức khác hẳn đi, thì liệu lúc ấy
    mình sẽ hết dân tộc tính chăng?
    Thưa quý bạn.
    Đặc tính dân tộc có thấm nhuần những vật thể, nhưng không phải là chỉ căn cứ vào những
    vật thể ấy mà thấy ra được toàn bộ đặc tính ấy. Nó là những giòng máu chu lưu dưới nhiều lớp
    da. Nó là luồng nhựa sống vận hành trong não tủy. Tuỳ lúc và tuỳ hoàn cảnh mà nó biểu hiện ra
    theo chiều thuận hay chiều nghịch, biểu hiện ra một phần hay toàn bộ và biểu hiện ra với
    người này hay với người khác.
    Cho nên, tìm hiểu truyền thống dân tộc là tìm hiểu một cái gì tinh tế hết sức, ở phạm vi tinh
    thần nhiều hơn.
    NHƯNG TA CŨNG KHÔNG THỂ THẤY RÕ NÓ QUA SỰ NGHIÊN CỨU TẬP QUÁN PHONG
    TỤC.
    Phong tục tập quán là ước lệ của cuộc sống chung trong cùng một hoàn cảnh lịch sử và địa
    dư, hễ hoàn cảnh đổi thì phong tục tập quán cũng không còn giữ được nguyên chất nữa. Thí dụ
    tục chơi múa lân vào rằm tháng tám ở miền Bắc, không mưa, trời đẹp, trăng sáng, chuyển vào
    miền nam, gặp tháng tám mưa nhiều đã không còn trò múa lân nữa, mà đến dịp tết Nguyên
    đán mới có. Lại thí dụ tục để của gia tài cho con, ở Bắc và ở Trung thì tất cả cho người con
    trưởng để gìn giữ ngôi nhà thờ họ, đời này qua đời khác. Người Việt vào đến miền Nam đất
    rộng người thưa phải mong cho con chóng lớn, lấy vợ cho, rồi cho ở riêng liền, để chiếm mau
    lấy ruộng đất, người ta giải quyết dần từng đứa con một như thế, đến đứa con út thì cho được
    hưởng nhà đất mà cha mẹ già để lại. Và đứa con út ấy muốn giữ thì giữ, muốn bán thì bán. Việc
    cúng giỗ mỗi con giữ giỗ một người quá cố và cúng tại nhà mình. Không còn ngôi nhà thờ họ
    đến mấy thế hệ người như ở miền Bắc và Trung nữa.
    Nhưng không thể vì tục lệ khác ấy mà cho rằng không còn truyền thống dân tộc ở miền Nam.
    Giả dĩ, ngay cả những thể chế chính trị khác hẳn trước để uốn nắn sự sống của con người
    như ở miền Bắc hiện nay, cho là uốn nắn được thực nhiều thế hệ, cũng không thể vì thế mà bảo
    rằng truyền thống dân tộc không còn chảy trong giòng máu của người dân Việt miền Bắc nữa.
    Bởi bản chất của người được tạo thành do nhiều yếu tố vật chất, tình cảm tinh thần, của cả một
    quá khứ dài dặc, trong hoàn cảnh thiên nhiên và xã hội có cùng, thông, biến, hóa như để luyện
    cho tinh thục cái năng khiếu và phản ứng ở tiềm thức, khiến sự sống càng bộn bàng, phức tập,
    gay go, nguy hiểm, thì tinh thần thích ứng lại càng linh động mẫn tiệp.
    Cũng như đối trước tình cảnh xã hội hỗn tạp hiện nay ở miền Nam, nào là ảnh hưởng của
    phim ảnh, của cuộc sống vội vàng trong thời chiến, nào là ảnh hưởng của sự thèm khát nhu yếu
    vật chất, thèm khát thỏa mãn dục vọng khiến nảy ra những tục lệ mới làm đảo lộn hết các giá
    trị tinh thần. Ai trông thấy mà chẳng đau lòng muốn khóc lên là truyền thống dân tộc chạy trốn
    đâu mất rồi? Nhưng tôi tưởng chúng ta vẫn có thể vững tâm, vì truyền thống dân tộc thực quả
    không phải chỉ là những gì hời hợt ở bề ngoài dễ trông thấy.

    NGAY CẢ NGÔN NGỮ CŨNG KHÔNG DÙNG LÀM CĂN CỨ ĐƯỢC ĐỂ TÌM TÒI
    Ngôn ngữ là phương cách biểu thị tâm tình, ý chí tinh thần của con người và của dân tộc,
    tinh tế lắm, với năng lực giáo hóa của nó cũng hiệu quả lắm, cho đến đỗi người Do Thái hồi tiền
    chiến vẫn nói rằng: “chúng tôi tuy không có nước, nhưng chúng tôi còn tiếng nói thì còn dân
    tộc và rồi dân tộc chúng tôi sẽ trở về nước tổ”. Việc ấy quả nhiên đúng, cũng như Trung Hoa đô
    hộ ta cả ngàn năm để lỏng lẻo không đồng hóa được tiếng nói, mà khi ta có dịp bứt xiềng đô hộ
    thì ta lại vẫn là một nước riêng biệt.
    Tuy vậy, ngôn ngữ chỉ nên kể là một yếu tố quan trọng chứa đựng và chuyên chở truyền
    thống dân tộc, mà không nên nhìn nó đã là truyền thống dân tộc.

    Vì cả những hình ảnh trong ngôn ngữ, những lối nói, lối nghĩ những ca dao, đồng dao, tục ngữ
    cách ngôn, cả những ngữ pháp, những tiếng tân tạo (bởi là sinh ngữ) cũng uyển chuyển chịu
    ảnh hưởng qua lại của ngoại ngữ cả về tiếng lẫn ngữ pháp, lẫn cách hành văn. Một người vào
    lớp Phạm Quỳnh chết đi năm 1920 bây giờ 1967 có sống lại, chưa chắc đã nghe hiểu nổi 7 phần
    10 câu chuyện của người đương thời nói. Nếu người ấy bảo rằng: ồ, bây giờ ta mất gốc rồi, hết
    truyền thống dân tộc rồi thì chẳng hóa ra oan lắm hay sao? Mà ngược lại những người cứ lôi
    mớ ca dao tục ngữ ra mổ xẻ để khai thác tìm truyền thống dân tộc thì chẳng hóa ra không sợ
    mang tiếng là làm chuyện hồ đồ hay sao?
    TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC LÀ CÁI BẢN CHẤT NGƯỜI RIÊNG BIỆT CỦA DÂN TỘC CÓ
    SINH TRƯỞNG TIẾN HÓA
    Trên những thồ ngơi khí hậu (nói chung là hoàn cảnh địa dư) trong những điều kiện sống
    chung của mọi bước thăng trầm may rủi (nói chung là hoàn cảnh lịch sử), sự chịu đựng những
    hoàn cảnh (như những cộng nghiệp cũ) của cả dân tộc để vật lộn, thích ứng, chống chọi, dung
    hòa mà sống và tiến hóa (như tạo những cộng nghiệp mới) mỗi dân tộc lại có một sắc thái
    riêng (như phản ứng của cá nhân riêng rẽ đối với những bất trắc của cuộc sống).
    So đọ mà kể với không gian vô biên và thời gian vô tận thì, những khó khăn thử thách gay go,
    có khi lại là những gì đáng nên mong ước cho dân tộc chóng khôn lanh. Bởi nó trui rèn thêm
    đức tính, nó giúp thêm nhiều kinh nghiệm và nó dậy thêm nhiều hiểu biết. Chẳng hạn như mới
    từ 1945 đến nay, 22 năm, những biến cố dồn dập đã làm người Việt-Nam khôn ra gấp mấy
    trăm năm trước. Và thời cuộc đi càng nhanh, các vấn đề càng gay gắt thì phản ứng của người ta
    lại càng mẫm nhuệ.
    TUY NHIÊN CÓ SINH TRƯỞNG THÌ TRUYỀN THỐNG CŨNG CÓ TỒN VONG
    Nhưng từng đã có khá nhiều nền văn minh bị tàn tạ, khá nhiều dân tộc đi dần đến tiêu vong.
    Ấy là khi gặp bất trắc, tiến không biết tiến lui không biết lui, bản chất chính của mình không
    biết giữ, nên bị cuốn hút và hóa theo những dân tộc văn minh lớn khác để dần dần không còn
    chân đứng dưới bóng mặt trời nữa. Cũng có thể rằng trong hoàn cảnh đen tối vẫn còn một ít
    người giữ được những truyền thống cũ (như người mọi da đỏ Mỹ Châu, hay người Chàm ở Việt
    Nam chẳng hạn) nhưng một vài con én không thể tạo được mùa xuân.
    Cho nên điều chúng ta thao thức băn khoăn, chiêm nghiệm qua những tấm gương ấy, là điều
    rất cần trong lúc này, nhất là trong lúc này.
    SONG MUỐN TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC ĐỂ GÌN GIỮ TA CẦN TÌM Ở ĐÂU?
    A.— Phải tìm ở những điều kiện thực tế về địa dư, khí hậu, những điều kiện mà bất cứ một
    giống người cổ sơ, du mục nào tình cờ đến định cư trên địa bàn ấy, cũng đều tự nhiên phải có
    những đặc tính của địa bàn ấy để thích ứng và tồn tại. Thí dụ như người Tàu ưa khạc nhổ gớm
    ghiếc, là do sự quen thói của giống Bắc Phương gần sa mạc Gô Bi, gió thổi, có lẫn cát làm cho
    khô cổ và vướng từ cuống họng khiến không khạc nhổ không chịu được. Lại thí dụ như người
    Ấn ưa vào rừng tọa thiền và trầm tư là vì 6 tháng nóng của địa bàn Ấn Độ là cái nóng không thể
    làm cách gì để tránh được.
    Những điều kiện thực tế về địa dư, khí hậu vừa nói ấy, tự nhiên có với nó những khoáng vật,
    thực vật, thảo mộc, sinh vật như thế nào thì cũng tự nhiên có với nó những con người riêng
    biệt như thế. Dân ở hải đảo khác với dân ở duyên hải, đồng bằng, ở sơn cước, ở sa mạc. Đó là
    điều ai cũng công nhận. Nhưng phải công nhận thêm, khi đã khác như vậy rồi, ở khởi thủy thì
    càng về sau dù có sự tiến hóa để hoà đồng với nhau, người ta cũng vẫn còn phần nào cái bản
    chất cố hữu.
    Cho nên người ta không sợ lầm lạc khi tìm truyền thống dân tộc trong những điều kiện thực
    tế về địa dư, khí hậu ấy. Đó là điều mà người xưa gọi là khí thiêng sông núi. Còn người nay thì
    gọi là điều kiện khách quan của hoàn cảnh địa dư.
    B.— Ngoài ra lại phải tìm những điều kiện thực tế khác ở sự sống chung trong dòng dài lịch
    sử, khi vinh, khi nhục, khi may, khi rủi, khi sướng, khi khổ, khi vui, khi buồn. Nó như những

    lượn sóng thủy triều của vận hội chung mà các cá nhân đã khó cưỡng lại nổi. Cho nên gọi là
    những bó thắt lịch sử. Nó bó thắt cho đến độ thành quả hiện tại của xã hội, chỉ có thể đến một
    mức tiến hoá khác; sức người dù mong muốn hơn cũng không sao được. Ấy là điều mà người
    xưa gọi công nghiệp.
    Điều này dễ nhận ra khi so sánh những nước chậm tiến Á Phi với những nước Âu Mỹ sẵn
    điều kiện xã hội để tiến hóa văn minh vật chất hơn.
    C.— Chúng ta tìm như thế để nhận định cái phản ứng chung ở tiềm thức của dân tộc đối với
    những biến cố và để nhận định chiều hướng cùng ước định cao độ những tư trào của các lượng
    sống lịch sử, mà người ta quen gọi là hằng tính lịch sử vậy.
    Hai điều trên là hai yếu tố có giá trị quy định. Điều dưới là yếu tố có giá trị tổng kết.
    Chúng ta tìm theo đường hướng này thì sẽ thấy rõ từ gốc đến ngọn ngành. Vậy chúng ta hãy
    đi sâu vào chi tiết.
    Địa bàn nơi gốc tổ: theo các sách sử thì địa bàn ấy của ta là ở Phong Châu, nơi đóng đô của
    dòng vua Hùng Vương đầu tiên trong lịch sử. Nhưng xét kỹ ra thì có lẽ Phong Châu chỉ là cái
    gốc thứ hai. Còn gốc chính và đầu tiên phải là vùng đồng bằng sông Mã với dẫy núi Hồng Lĩnh
    mới chắc đúng.
    A.— Phong Châu là khu vực đồng bằng sông Nhị Hà gồm Sơn tây, Phú thọ, Việt trì, Hưng hóa,
    ngoài lăng miếu cổ của họ Hùng Vương không còn bao nhiêu di tích lịch sử quan trọng khác.
    Còn Thanh Hóa với khu vực đồng bằng sông Mã, thì đã có hết sức nhiều di tích lịch sử. Từ
    những đền thờ của Thục An Dương Vương, Triệu Ẩu, Khương công Phụ, Triệu Quang Phục, Lê
    Đại Hành, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Tô hiến Thành, Trần khát Chân,... đến thành nhà Hồ,
    thành Lê Chích, phủ An Trường, Lam Kinh của nhà Lê, Đầm Tôm của nhà Trịnh, nền nhà cũ của
    Nguyễn Kim,... đến những lăng miếu của các dòng họ Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn,… người ta
    phải công nhận rằng đây là nơi nhiều khí linh tú nhất trong nước, đào tạo nên những anh hùng
    hào kiệt, thời nào cũng có, ngay cả thời này.
    Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã ca tụng:
    “Đông liền lớn, Tây cắp rừng dài, phu lãnh thủy chặn ở phía Nam, Núi Tam Điệp ngăn về phía
    Bắc. Non cao thì có Thiên tôn và Na Cù. Sông lớn thì có Lương Mã và Ngọc Giáp. Núi sông quanh
    bọc, cao thấp lẫn xen. Hội Trào và Y Bích là khóa then mặt biển. Lôi Dương và Vĩnh Lộc là xung
    yếu đường trên.
    Hồ Công, Bích Đào nảy ra những động Linh Kỳ, Hoàng Mỹ, Nông cống đều là những nơi lầy lốt.
    Hình thế hùng tráng, các tỉnh miền Trung không đâu sánh kịp.
    Còn như Tống Sam, Quí Huyện, là nơi xương sống Càn Long. Muôn non nghìn núi, điệp điệp
    trùng trùng; bốn mặt quay về, non xanh nước sáng đầy rẫy khí thiêng. Ấy là nơi phát tường của
    quốc gia ta, cùng với Lam Sơn của nhà Lê riêng nên phúc địa. Cũng không khác gì đất Mân đất
    Kỳ của nhà Châu và đất Phong đất Bái của nhà Hán vậy.”
    Pierre Pasquier cũng đã có những nhận xét sau đây:
    “Thanh Hóa không phải là một khu vực hành chính mà là một Quốc thổ. Nó như một tấm kính
    thu nhỏ của toàn xứ Bắc. Cũng có một vùng đồng bằng đông đúc phì nhiêu, một vùng trung du cỏ
    mọc những lượn sóng và một vùng cao nguyên rừng già âm u. Sau bờ biền hiểm trở, dọc theo
    những dòng sông rộng và sâu, gần những sườn núi chỗ nào cũng có hang động và trong những
    thung lũng kín đáo, giống người Việt-Nam đã tìm thấy ở đây một mảnh đất trời cho để dùng làm
    trạm nghỉ chân, mà trải nhiều thế kỷ dân tộc ấy đã sửa soạn bước Nam Tiến của mình cũng sửa
    soạn và tập trung lực lượng để hoàn thành vận mệnh của mình. Trong những giờ phút thử
    thách của lịch sử, Thanh Hóa đối với miền trung hơn hẳn Hà-Nội, đã là linh địa bảo tồn tất cả
    những kỳ vọng của giống nòi. Từ những mảnh đất Thánh này hiện còn những hài cốt tổ tiên các
    giòng vua của đất nước, đã nẩy sinh ra những vị anh hùng hào kiệt vào hạng thượng thặng...”

    Đó là nói chung về địa thế.
    B.— Về phương diện khảo cổ thì người ta đã tìm thấy trống đồng Đông Sơn tại đây lẫn với
    một ít tiền đồng của đời Hán bên Tầu. Nhờ thế mà có thể định được niên đại là trống được chế
    tạo ít ra cũng vào trước kỷ nguyên.
    Các Hậu Hán Thư quyển 54 có chép: Mã Viện cỡi ngựa khéo phân biệt ngựa có danh tiếng, khi
    đi đánh Giao Chỉ lượm được trống đồng Lạc Việt bèn đúc làm con ngựa kiểu. Tỏ rằng người
    Trung Hoa đời Tần, Hán không có trống đồng. Các đồ đồng cũ của họ cũng không thấy có gì
    giống với trống đồng. Đến cácdân tộc lân cận trong vùng Đông Á cũng không thấy có sự chế tạo
    trống đồng nữa. Nó là một sản phẩm riêng biệt của người Việt ở Đông Sơn. Cho nên di tích
    trống đồng là di tích văn minh Đông Sơn, và vùng đồng bằng sông Mã phải là gốc tổ xưa hơn
    vùng Phong châu ở đồng bằng sông Nhị.
    C.— Về phương diện nhân chủng học, người ta thấy dân Dayak trên đảo Bornéo ở Nam
    Dương cũng có những thuyền giống như hình thuyền vẽ trên trống đồng Đông Sơn, dùng làm
    thuyền Bát Nhã để đưa linh hồn người chết sang đảo Cực Lạc, và những tục lệ ma chay cũng
    giống như hình vẽ trên mặt trống, thêm đồ đồng khai quật được ở Đông Sơn cũng có quan hệ
    với đồ đồng ở Nam Dương. Các nhà cổ học đã kết luận “Dân Mã Lai cùng các chủng tộc ở Đông
    Dương thuộc về cùng một chủng tộc”. Và Ông L.Finot đã chủ trương: “Những đồ đồng xưa phô
    bày hình ảnh một dân tộc canh nông, săn bắn, thủy thủ thờ vật tổ mà cách ăn mặc không còn
    thấy ở Đông Dương, nhưng trái lại, lại thấy trên các hải đảo Thái Bình Dương, phải chăng chính
    đấy là dân tộc Indonésien mà về ngôn ngữ chủng tộc đã từng sống trên bán đảo Đông Dương rồi
    bỏ bán đảo lại cho dân mới để đi sang những quần đảo Thái Bình Dương? Trên bán đảo Đông
    Dương chỉ còn lại dấu tích về ngôn ngữ cùng phong tục mà chúng ta quên dần đi.”
    Như vậy, càng là một bằng chứng có thể tin được rằng trước khi tiếp xúc với văn minh miền
    Nam Trung Hoa, người Việt Giao chỉ đã định cư tại khu vực đồng bằng sông Mã.
    D. — Khảo thêm về ngôn ngữ, ta thấy người Thanh Nghệ Tĩnh do hoàn cảnh sinh hoạt và
    tính chất sinh lý đã có xu hướng bảo thủ ngôn ngữ, họ giữ nhiều giọng xưa, âm xưa, tiếng xưa,
    và tiếng nói của họ nặng nề khắc khổ, ít bị pha trộn vì ảnh hưởng của tiếng Trung Hoa, và gần
    với âm hưởng của tiếng Mường, Polynésien ngày nay còn ở vùng núi Thanh Hóa.
    Kết luận: Giả thuyết mà tôi nêu ra trong sách Việt Nam Văn Minh Sử Cương (Lá Bối xuất
    bản) đã có phần nào có thể nhận được rằng:
    1. Đồng bằng sông Mã là nơi tứ chiếng quần cư của nhiều bộ lạc từ Nam Hải theo gió mùa
    ngược thuyền lên cũng có, từ Bắc Hải theo gió mùa xuôi thuyền xuống cũng có, và từ các dẫy
    núi cao đi lần tới cũng có nữa.
    2. Khi định cư, mỗi bộ lạc chiếm một hay nhiều hang động thiên nhiên, hiện nay vẫn còn lại
    rất nhiều, rồi lai giống với nhau, tranh giành nhau quyền lợi, xung đột với nhau.
    3. Nhóm bộ lạc yếu thế chạy rút về phía bắc đến vùng đồng bằng sông Nhị ở Phong châu định
    cư, và được một nơi an toàn đề lập quốc, vì đường từ biển vào khó đi thuyền, đường từ vùng
    sông Mã lên phải qua núi qua sông và rừng rất nhiều.
    4. Nhóm bộ lạc mạnh thế ở lại chỗ cũ, nhưng luôn luôn bị giặc bể vào cướp phá nên thiếu hẳn
    điều kiện để phát triển cho có bề thế của một quốc gia.
    Bởi những lẽ ấy, chúng ta cần nhận định dứt khoát không nên có một ý tự tôn quá đáng,
    trong việc này, để tìm truyền thống của một dân tộc hùng cường, hiếu chiến, thích đánh đông
    dẹp bắc, thích xâm lăng các nước láng giềng. Mà ngược lại, sự thực dân tộc ta chỉ là một dân
    yếu đuối, và chỉ thích sống hòa bình yên ổn với xung quanh.
    Đây là một giống dân lai nhiều giòng máu. Nhờ lai nên khôn, không cố chấp, và lúc nào cũng
    sẵn sàng dung hòa quyền lợi với mọi người để mềm mỏng tiếp nhận mọi ảnh hưởng văn minh
    mà tiến hóa. Đó là điều mà lịch sử đã có rất nhiều sự kiện để minh chứng. Ta sẽ xét sau. Đây
    hãy nói về hoàn cảnh dịa dư của hai nơi phát nguyên ấy.

    HOÀN CẢNH ĐỊA DƯ
    Hồi cách đây khoảng ba bốn ngàn năm, ta nhớ rằng đồng bằng sông Mã và sông Nhị chưa
    được bồi xa đến như ngày nay, Các hang động núi non ở Thanh Hóa vốn xưa là những hải đảo
    hay bán đảo và biển đông còn lênh láng tới Việt Trì bây giờ.
    A.— Đất để trồng trọt cầy cấy còn hiếm hoi lắm. Nhất là ở sông Mã chỉ thuận tiện cho việc
    chài lưới, đi biển, cùng tiện cho các thuyền ngược xuôi ngoài biển ghé vào. Hoặc để mua các
    thổ sản, như dưa hấu của An Tiêm (mà hiện hãy còn bãi An Tiêm) hoặc để bán các hải sản,
    hoặc nữa để cướpbóc đánh phá. Bất cứ một vùng duyên hải và hải khấu nào ở thời xưa cũng
    đều phải chịu đựng cảnh ngộ ấy. Bởi thuyền đi lênh đênh ngoài biển mà thiếu lương thực thì
    người không muốn ăn cướp cũng thành hải khấu, nếu lại không mua được lương thực của
    người trên bờ. Và người trên bờ vì lẽ không dư dật, cũng phải chiến đấu dữ dội để bảo vệ lương
    thực và tài sản của mình.
    Do đó mà người ở vùng Hồng Lĩnh, sông Mã đã có tinh thần chiến đấu bền bỉ để truyền
    thống còn mãi đến ngày nay.
    Những hang động rất nhiều: Hồ Công, Từ Thức, Kim Sơn, Hàm Rồng, Lục Vân, Long Quang...
    cùng với các núi đủ kiểu, đủ tên gọi, tới bẩy mươi ba ngọn với đường vào ra hết sức hiểm trở,
    xen lẫn với rừng già suối nước, thác ghềnh, hiện vẫn còn lại để chứng thực những trận chiến
    ghê hồn đã có thể diễn ra tại đây, trong thời quá khứ xa xưa.
    Thêm ngoài biển lại có những xoáy nước mà nguy hiểm nhất là của thần phù, đã làm cho
    người ta sợ hãi cho đến tận hồi gần đây với câu ca dao : “Lênh đênh qua cửa Thần Phù, khéo tu
    thì nổi vụng tu thì chìm”. Cửa bể ấy hẳn đã đánh đắm nhiều thuyền bè và dìm sâu nhiều sinh
    mạng của dân định cư địa phương cũng có, mà dân ngoài muốn tấp vào bờ cũng có.
    Ta thấy người xưa ở đây từng phải chiến đấu vừa với kẻ thù nghịch, vừa với thiên nhiên, lại
    vừa với thú dữ, nên bảo rằng khí thiêng sông núi ở đây đã tạo nên nhiều anh hùng hào kiệt thì
    sợ có người cho là nói mơ hồ, chứ thực thì hoàn cảnh địa dư ấy nhất định phải làm nảy sinh
    những nhân vật ấy để thích ứng và tồn tại.
    B.— Còn vùng đồng bằng sông Nhị, căn cứ mới của nền văn minh nông nghiệp Văn Lang ở
    Phong Châu, thì tuy hồi ấy cũng là khu đất ven biển, cũng có nhiều núi non, nhưng không hùng
    vĩ bằng vùng sông Mã, lại có ruộng đất nhiều để trồng trọt cầy cấy hơn. Đường đi từ biển sâu
    vào lầy lội rất khó đi vì phù sa bồi đắp. Khi nước triều lên thì lênh láng khắp cả không biết chỗ
    nào nông sâu để đi vào. Khi nước rút thì các cây xú cây bần (giống cây mọc ở vùng nước mặn)
    sẽ trồi cả lên. Đó chính là những phòng ngự thiên nhiên chống với giặc biển muốn xông vào
    cướp phá. Phần những bộ lạc thù nghịch ở phía Nam cũng không vượt núi băng rừng để tới tận
    đấy làm gì. Phần những bộ lạc khác ở rừng núi phía Bắc cũng còn thưa thớt. Nhờ vậy mà khu
    vực Phong Châu thành khu vực an toàn để lập quốc, và con người sống yên ổn nhàn hạ, nhũn
    nhặn với nghề nông trong những thời gian hết sức dài.
    Đất phù sa càng bồi thêm thì ruộng đồng càng mở rộng dần để đời sống càng sung túc. Con
    người không lúc nào phải chiến đấu chống thiên nhiên cả. Họ chưa có kỹ thuật ngăn nước mặn
    và rửa đất phèn để mở rộng đất canh tác ra thật nhanh, nên cả khu vực đất tân bồi còn lầy lội
    và nhiều hơi độc, vẫn bị bỏ hoang[1].
    Nhưng khu vực đất đã thuộc, vẫn dư sức cung cấp lương thực nuôi một số dân chưa lấy gì
    làm đông đảo quá.
    Sợ rằng, ở hồi đầu này, kỹ thuật canh tác cũng chỉ mới là lối trồng lúa tỉa mà người miền
    Thượng còn giữ để trồng ở các sườn đồi. Cho tới khi có đoàn người miền Nam Trung Hoa tràn
    tới, mang theo một kỹ thuật canh tác tiến bộ hơn, thì bấy giờ mới có việc cầy ruộng và cấy lúa.
    Mặc dầu vậy, dưới sự ưu đãi của thiên nhiên, người Giao Chỉ Văn Lang vẫn đã rất an nhàn
    sung sướng để sẵn sàng sống rất cởi mở với hết thảy mọi giống dân khác.
    KHÍ HẬU

    Khí hậu bốn mùa rõ rệt, nói chung là dễ chịu.
    — Mùa xuân thì ấm áp hơi lạnh về đêm, còn suốt ngày dịu mát Mặt trời không nắng gắt lắm.
    Thỉnh thoảng loe ra vào buổi trưa một lúc rồi lại có mây mờ dầy đặc che phủ. Ngày có gió nồm
    đầy hơi nước từ miền Nam tới thì không khí ẩm ướt. Ngày có gió bấc nối tiếp mùa đông từ một
    chạp thì khô và lạnh làm cho nẻ mặt và xước măng dô ở ngón tay. Mưa lất phất không đủ ướt
    đất, tưới nhẹ cho cây cối. Trong khi đất ruộng khô nứt ra, vì từ tháng mười không còn những
    trận mưa lớn, lại qua một mùa đông lạnh gió hút hết hơi nước trên mặt đất.
    Cây cối ra hoa và lá non. Nhưng ruộng đồng nứt nẻ thì đành chịu, không cầy và đập đất mệt
    nhọc quá được, nên không cấy được vụ chiêm.
    Vì vậy bắt buộc “tháng giêng phải là tháng ăn chơi”. Người siêng năng mấy cũng chỉ cuốc và
    đập đất ở những mảnh ruộng nhỏ để trồng đậu, trồng khoai, trồng cà về tháng hai.
    — Mùa hạ bẳt đầu khoảng giữa tháng tư. Trời ít mây. Mặt trời le lói từ sáng đến trưa thì nắng
    gắt, và càng về chiều nắng xiên khoai lại càng khó chịu. Trời oi ả, thỉnh thoảng mới được một
    ngọn gió nam mát mẻ còn thường gió tây nóng bức hầm hập như trong lò lửa. Nhưng cách vài
    ngày thì lại có mây đen với mưa rào thật là nhiều nước, ngập các ruộng đồng cho đất mềm ra.
    Để: “tháng tư đi tậu trâu bò, để ta sắp sửa làm mùa tháng năm” ấy là vì không có mưa rào đất
    không mềm thì không cầy được.
    Nhưng vì mưa bất thần, điều kiện thì giờ làm việc đồng áng phải từ hết sức sớm, để khi mặt
    trời lên khỏi ngọn tre là nghỉ, rồi đến chiều tà nhạt nắng xiên khoi, mới lại làm cho đến tối. Nên
    ruộng đồng bắt buộc phải gần nhà, chỉ chu vi ba bốn cây số là nhiều, thêm phải có cái quán
    giữa đồng hay cây đa để trú mưa và nghỉ trưa. Nên văn minh nông nghiệp của người Giao Chỉ
    Văn Lang, có cái quán giữa đồng, cái cây đa đầu làng ấy là một đặc điểm vậy.
    — Mùa thu vào khoảng cuối tháng bẩy với những trận mưa ngâu tầm tã, không lớn nhiều
    nhưng dai dẳng đến nửa ngày có khi cả ngày để sau đó thì trời dịu mát và thỉnh thoảng có
    những trận mưa nhỏ nhỏ là mùa rươi.
    Ngày thì trời quang, đêm thì trăng sáng. Nhất là vào rằm tháng tám, trời không có một vẩn
    mây, trăng sáng rực như ban ngày. Vào dịp này người ta gọi “Tháng ba ngày tám” là những
    ngày mà nhà nông rảnh rang công việc đồng áng, chỉ ngồi nhà thảnh thơi chờ lúa chín thì gặt,
    người ta chơi tết Trung Thu. Nhưng cũng vẫn phải lo sợ nước lũ từ trên nguồn trên về làm
    ngập lụt mất mùa, hay những cơn bão làm đổ cửa đổ nhà.
    Qua mùa đông, gặt hái rồi thì mới chắc dạ. Mùa đông bắt đầu khoảng cuối tháng mười, hết
    mưa lớn, nhưng thỉnh thoảng có mưa phùn. Nắng nhạt không gay gắt nhưng hanh, vì gió bắc
    không mang hơi nước lại. Đất ruộng sau vụ gặt khô và nứt nẻ dần. Nước sông ngòi cũng cạn
    dần.
    Công việc của nhà nông chỉ còn là gặt lúa, mang về nhà đập và phơi rồi cất lúa vào bồ và nghỉ
    ngơi, sửa soạn ăn tết và đón xuân, mà bắt đầu lại một vòng tuần hoàn như cũ.
    Tuy có rét lạnh, nhưng thường cũng khoảng lạnh nhất là 7, 8 độ trên không độ mà nóng thì
    cũng độ 30 - 32 độ không đến nỗi lạnh quá hay nóng quá không chịu nổi.
    Khí hận ấy, cùng với điều kiện làm việc như đã kể, đã khiến người Giao chỉ Văn lang sống
    định cư thành làng, ở giữa một vùng đồng ruộng khoảng ba bốn cây số là nhiều, nếu phải du
    canh theo lối diện tích đất ruộng mở rộng thêm của phù sa bồi đắp, thì người ta cũng du canh
    đến đặt một cái làng mới vào giữa khu đất ruộng ấy.
    Cái làng với tổ chức của nó chính là một đặc điểm nữa của nền văn minh nông nghiệp. Sự đi
    theo ruộng mà du canh cũng là một đặc điểm khác của tinh thần thực dân canh nông còn
    truyền thống đến bây giờ. Ấy là thứ tinh thần của nông dân thấy đất ruộng bám chặt lấy rồi
    dựng làng, sống hòa đồng với người, để làm ăn rất hợp pháp, hợp tình hợp lý, để cuối cùng là
    quân đội đi sau và sự giao thiệp giữa hai lân bang về pháp luật sẽ đi sau nữa để thừa nhận
    những sự chiếm hữu đã rồi. Cả một cuộc Nam tiến của dân tộc ta và hiện nay đương có một

    cuộc tây tiến, đều đã và đương được thực hiện với tinh thần thực dân canh nông ấy. Nó khác
    hẳn với tinh thần và lề lối thực dân thương mại của người Trung Hoa, thực dân kỹ nghệ của
    người Pháp, thực dân tài chính của người Mỹ.
    Rồi thong thả chúng ta sẽ xem nó kỹ hơn.
    Nay hãy tiếp tục tìm nguồn gốc truyền thống dân tộc trong lịch sử.
    QUÁ KHỨ LỊCH SỬ
    A.— Thời thượng cổ, gốc của ta như giả thuyết vừa trình bầy, là một nhóm bộ lạc thất trận,
    tình cờ được đưa tới một địa bàn an toàn để no đủ và lập quốc. Cuộc sống an toàn thảnh thơi
    khiến con người gần với thiên nhiên, hòa hợp tâm tình với hoàn cảnh thiên nhiên hiền dịu, để
    có một thái độ sống triết nhân không chiến đấu gay gắt, thế nào cũng được, xong chuyện thì
    thôi. Sử cũ của Tầu còn chép : “dân ta tính tình thuần phác, thắt nút để ghi nhớ công việc”. Quả
    có thể như thế được. Vì ngoài việc đồng áng và vui sống với nhau trong cái làng thân mật, với
    những tục lệ diễn tiến đều đều với năm t...
     
    Gửi ý kiến

    CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT BẮC SƠN - LẠNG SƠN!

    "Việc đọc rất quan trọng. Nếu bạn biết cách đọc, cả thế giới sẽ mở ra cho bạn.” - Barack Obama