NHẠC TẾT 2026
Nhạt ký Đặng Thuỳ Trâm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:13' 11-03-2024
Dung lượng: 939.5 KB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:13' 11-03-2024
Dung lượng: 939.5 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
NHẬT KÝ ĐẶNG THUỲ TRÂM
Lời giới thiệu
Câu chuyện về những tấm lòng
NHỮNG NGÀY RỰC LỬA
QUYỂN MỘT
1969
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Nơi ấy là khoảng trời anh ở
QUYỂN HAI
ĐẰNG SAU CUỐN NHẬT KÝ
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm sinh ngày 26 tháng 11
năm 1942, trong một gia đình trí thức. Bố là bác sĩ ngoại khoa
Đặng Ngọc Khuê, mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm – Nguyên
giảng viên trường Đại học Dược khoa Hà Nội.
Tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966,
Thuỳ Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường B. Sau ba
tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3 năm 1967 chị vào đến
Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện
Đức Phổ, một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu điều trị cho các
thương bệnh binh.
Chị được kết nạp Đảng ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ
vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, chị bị địch phục kích và hy sinh
anh dũng lúc mới chưa đầy 28 tuổi đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm
tuổi nghề.
Hài cốt của chị được đồng bào địa phương na táng tại nơi
chị ngã xuống và luôn hương khói. Sau giải phóng, chị được
gia đình và đồng đội đưa về nghĩa trang Liệt sĩ xả Phổ Cường.
Năm 1990, gia đình đã đưa chị về yên nghĩ tại nghĩa trang Liệt
sĩ xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu hai cuốn nhật ký của
Liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm ghi trong những ngày ở chiến trường.
Bản thân hai cuốn nhật ký này cũng có một số phận kỳ lạ:
chúng rơi vào tay những con người có lương tri bên kia chiến
tuyến, được họ giữ gìn và tìm mọi cách để đưa về cho gia đình
chị. Sau hơn một phần ba thế kỷ lưu lạc, đúng vào dịp kỷ niệm
30 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
(30.4.2005), nó đã trở về với gia đình liệt sĩ. Hiện cuốn nhật
ký được lưu giữ tại Viện Lưu trữ về Việt Nam ở Lubbock,
Texas, Mỹ.
Trong quá trình biên soạn và chỉnh lý, chúng tôi cố gắng
tôn trọng nguyên bản câu văn cũng như những thói quen dùng
từ và ngữ pháp của tác giả - chỉ sửa lại một số từ địa phương
hoặc lược bớt những từ trùng lặp. Chúng tôi cũng chú giải một
số điểm cần thiết để bạn đọc có thể hiểu hơn hoàn cảnh cũng
như lịch sử và bản thân tác giả.
Ngoài ra, trong phần ảnh tư liệu, được phép của những
người có liên quan, chúng tôi có sử dụng những bức ảnh trong
album gia đình, ảnh chụp ở Quảng Ngãi trong những năm
1969 – 1970 do Frederic Whitehurst cung cấp và một số bức
ảnh do liệt sĩ Nguyễn Văn Giá – Phóng viên hãng phim Thời
sự - Tài liệu Việt Nam chụp tháng 10.1969 ở thôn Nga Mân,
xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ - Quảng Ngãi trước khi anh hy
sinh.
Lời giới thiệu
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Thời chống Mỹ từng có một bác sĩ,
một con người, tên là Đặng Thuỳ Trâm…
Tác giả những dòng nhật ký sua đây bạn đọc sẽ đọc thuộc
về một lớp người khá đặc biệt trong đời sống tinh thần xã hội
ta từ sau 1945 - họ có mặt trong công cuộc chiến đấu chống
Mỹ từ mấy năm đầu tiên, khi ở miền Nam, các cơ sở cách
mạng triển khai đến tận nhiều huyện đồng bằng, và trên toàn
quốc, cuộc chiến tranh dù đã gian khổ nhưng chưa có cái
không khí bức bối khắc nghiệt như từ đầu những năm 70 trở
đi.
Và một điều đáng nói nữa: trước đó, họ thuộc lứa thanh
niên đầu tiên được đào tạo theo tinh thần của những người đi
kháng chiến chống Pháp, cái tinh thần “cuộc sống mới”, ấp ủ
từ những ngày Việt Bắc gian khổ mà hào hùng
Hà Nội trước chiến tranh thanh bình, yên ả lạ thường. Bao
trùm xã hội là một không khí thiêng liêng, thành kính. Ngay
đối với người dân thường mọi chuyện làm ăn sinh sống chỉ có
ý nghĩa là sự chuẩn bị cho ngày mai có mặt ở chiến trường.
Nền kinh tế tem phiếu chưa làm mấy ai khó chịu. Trong tâm
trí đám học trò chúng tôi (tôi với Thùy Trâm vốn học cùng lớp
trong suốt ba năm cấp ba ở trường Chu Văn An, nên dưới đây,
việc dùng chữ chúng tôi là có một lý do chính đáng) lúc nào
cũng thấm đẫm tinh thần lãng mạn của Ruồi trâu, của Pavel
Korsaghin trong Thép đã tôi thế đấy và cả của Marius và
Cosette trong Những người khốn khổ. Sách vở lúc ấy là đồng
nghĩa với văn hoá. Thêm một điã nhạc cổ điển, với một vài
bông hoa trên bàn nữa thì coi như mãn nguyện hoàn toàn. Có
mặt trong đám đông dự mít tinh ở quảng trường Ba Đình trong
một ngày lễ lớn (trước 1965, những ngày lễ lớn bao giờ cũng
có mít tinh, đâu cả chục ngàn người), anh bạn tôi mặt ngẩng
cao dõi theo mấy cánh chim bay mãi vào những đám mây xa.
Đêm giao thừa ngay khi có chiến tranh rồi thì mấy ngày Tết
vẫn có ngừng bắn, cũng như mọi người, chúng tôi dắt xe đạp
đi bộ quanh Hồ Gươm trong tiếng nhạc dập dìu của mấy bài
Hà Nội Huế Sài Gòn, Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó…
Và có thể nói mà không sợ ngoa là từ đấy, nhiều người đi
thẳng ra chiến trường.
Nhật ký tôi viết mấy năm ấy còn ghi lại được hình ảnh về
những người lính ớ đánh Khe Sanh 1967: Quần áo ba lô người
nào cũng tinh tươm, niềm tin sáng bừng trong mắt, chỉ sợ
không đi thì lỡ mất dịp có mặt trong lễ chiến thắng.
Một niềm tin tưởng như chỉ có ở tôn giáo - thứ niềm tin
mang đầy cảm giác thánh thiện - chi phối hành động mọi
người. Lao vào chiến tranh lúc ấy không phải chỉ là nghĩa vụ
mà còn là niềm ao ước, là vinh dự mà nhiều anh em chúng tôi
cảm thấy phải giành lấu bằng được.
Tốt nghiệp đại học 1966, Thuỳ Trâm lại xung phong đi khá
xa, vào tận Đức Phổ, Quảng Ngãi. Ở đó chị làm công việc đặc
trưng cho người phụ nữ trong chiến tranh là phụ trách một
bệnh viện huyện, và từ đó tạo nên cho mình một số phận.
Không phải ngẫu nhiên, hai người lính thám báo Mỹ hôm
qua, trong bức thư gởi tới người mẹ của liệt sĩ vừa viết mới
đây, khẳng định một cách chắc chắn như đinh đóng cột: “Trên
bất cứ đất nước nào trên thế giới, điều đó đều được gọi là anh
hùng”
Họ muốn nói tới cái sự việc từng ám ảnh họ một thời gian
dài: người bác sĩ này đã đứng ra cầm súng bảo vệ cho những
thương binh, và đã ngã xuống như một người lính vừa rời tay
súng.
Tuy nhiên, theo tôi, trước khi để cái hành động dũng cảm
cuốn cùng Thuỳ Trâm “đóng đinh” vào tâm trí mình, những
người lính bên kia chiến tuyến thật ra đã bị chinh phục. Phải
có một nhân tố nào nữa, thiết yếu hơn, khiến họ tự nhủ phải
cứu bằng được cuốn nhật ký rồi bị hút theo chị, mải miết tìm
cách giải mã những dòng chữ chị ghi và sau này còn để rất
nhiều thời gian lần theo dấu vết của chị.
Chỉ có toàn bộ con người Thuỳ Trâm mới đóng nổi vai trò
đẹp đẽ đó.
Gần đây, khi đi ra với thế giới, nhiều người trong chúng ta
chợt hiểu ra một sự thực: hai chữ Việt Nam bấy lâu mới chỉ
gắn với một cuộc chiến tranh. Và chúng ta còn phải phấn đấu
nhiều để người ta hiểu rằng việt Nam còn là một xã hội, một
đất nước, một nền văn hoá.
Ngay từ lúc ấy, trong vai trò một chiến sĩ, Thuỳ Trâm đã tự
chứng tỏ mình mình còn là một con người với nghĩa rộng rãi
nhất của từ này.
Một mặt, chị có ý thức về bổn phận. Chị yêu thương mọi
người. Chị đau nỗi đau của mỗi bệnh nhân đến với mình. Chị
muốn trở thành một người tốt. Những cách nói mà với một số
bạn trẻ ngày nay tưởng như là công thức (chẳng hạn trái tim
đập cùng một nhịp với nhân dân đất nước, chẳng hạn niềm yêu
thương vô hạn độ) chính là những lẽ sống đã được Thuỳ Trâm
tự nguyện chấp nhận.
Mặt khác,chị vẫn dành riêng cho mình một cuộc sống
riêng tư. Chị tha thiết với thiên nhiên cây cỏ. Một phần tháng
ngày của chị được dệt bằng những vui buồn của quá khứ.
Trong khi thất bại trong tình cảm riêng. con người này lại biết
tìm ra ngay từ bằng người chung quanh những yếu tố tốt đẹp,
rồi lý tưởng hoá thêm lên để biến họ thành những biểu tượng
sinh động, bù đắp cho một cuộc đống nội tâm vốn quá dồi dào,
quá nồng nhiệt.
Có một quy ước những ai ở vào lứa tuổi chúng ta đều biết
và tự nguyện ghi nhớ, tự nguyện tuân theo, đó là không nên
nói nhiều đến cô đơn cùng nỗi buồn. Sự phức tạp của tình cảm
lại càng là điều cấm kỵ.
Cái gì cũng phải rành rẽ. Đơn giản. Rõ ràng - cái kiểu rõ
ràng thô thiển một chiều. Về phần mình mặc dù là con người
hết lòng tin vào lý tưởng, song Thuỳ Trâm không bị những
luật lệ không ghi thành văn bản ấy ràng buộc. Với sự nhạy
cảm của một trí thức, chị lắng nghe trong mình mọi băn khoăn
xao động. Chị không xa lạ với những phân vân khó xử. Trong
nhật ký, người nữ bác sĩ ghi ra gần hết tất cả những cung bậc
tình cảm mà ai người ở vào địa vị ấy đều trải qua, và có cảm
tưởng chỉ làm như vậy mới tìm được sự cân bằng cần thiết.
Tuy cái chết không được miêu tả nhiều trong nhật ký,
nhưng trong tâm trí Thuỳ Trâm, nó luôn luôn có mặt. Nó đứng
thấp thoáng đằng sau các sự kiện, và cuộc đối diện với cái chết
làm nên một phần nội dung cuộc sống, tức cũng là làm nên vẻ
đẹp cao thượng của con người lúc đó mới 27 tuổi này. Đọc
nhiều trang, nhất là nửa phần viết về sau, khi đề cập tới nhiều
hy sinh mất mát, tôi không khỏi liên tưởng đến nhiều tác phẩm
văn học có liên quan tới cùng một chủ đề.Đây là một bài thơ
mà nhà thơ Nga Aleksei Surkov đã viết trong cuộc chiến tranh
chống Phát xít:
Trong hầm ta ánh lửa sáng ngời
Từng thanh củi bọt sùi như lệ ứa
Tiếng đàn dạo một điệu trầm và nhẹ
Ca ngợi mắt em ca ngợi nụ cười em
Anh ở đây trên tuyết gần Mạc Tư Khoa
Những hàng dương đang ngọt ngào thầm thĩ
Cái bản tình ca anh vừa hát ấy
Bản tình ca buồn anh mong được em nghe
Giữa đôi ta dù xa cách mênh mong
Dù cái chết đến gần anh mấy bước
Dù có cả một cánh đồng băng tuyết
Trên đương dài ta vẫn đến gặp nhau
Ta hát ta đàn ta dẹp yên bão táp
Hạnh phúc mất ở ta dẫn nó trở về
Tình yêu sưởi chiến hào thêm ấm áp
Tình yêu này sáng mãi giữa tim anh.
Tôi dự đoán là đã có những lúc Thuỳ Trâm sống cái cảm
giác mà bài thơ diễn tả, dù là không biết gì về nó. Hồi ở Hà
Nội, chị cũng rất thích âm nhạc và thường quan âm nhạc để
hình dung ra những gì thiết yếu của đời sống - sự hoà hợp, tình
yêu, hạnh phúc.
***
Ngoài những Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu, thơ Từ ấy của
Tố Hữu , thơ Đợi anh về của Simonov, vào những ngày đọc lại
nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm để góp phần chỉnh lý và biên tập
lại thành một cuốn sách, thường trong đầu óc tôi còn trở đi trở
lại một vài tác phẩm nước ngoài khác, đặc biệt là trường hợp
Nhật ký Anne Frank.
Chỗ giống nhau đầu tiên: Đây đều là những tác phẩm viết
về con người đối diện với chiến tranh. Trong cuộc sống khó
khăn của một người bị ép phải chui nhủi trong một nơi ẩn náu,
cô thiếu nữ Do Thái mang tên Anne Frank vẫn tìm đủ không
gian để thể nghiệm mọi cảm giác làm người bình thường, và
điều đó làm cô tự hào.
“Tôi có cái can đảm sống khác thường. Tôi luôn luôn cảm
thấy mình sao khoẻ thế, sao tự do và trẻ trung thế.”
“Thật lạ cho điều này: tôi chưa bao giờ rời bỏ hy vọng.
Chúng có vẻ phi lý và khó thành tựu. Song mặc tất cả, tôi vẫn
bám vào chúng. Vì tôi tiếp tục tin vào lòng tốt thiên bẩm của
con người.”
Những dòng chữ đơn giản đó hoàn toàn có thể đặt lẫn vào
nhật ký Thuỳ Trâm mà không gượng gạo.
Còn một đếm nữa làm nên sự gần gũi giữa Thuỳ Trâm với
Anne Frank, nó cũng là lý do khiến bọn tôi chọn cho tập ghi
chép của chị cái tên đơn giản như hiện nay, đó là cái thể loại
mà họ sử dụng - thể nhật ký.
Trong đời sống không thiếu gì những người khi bước vào
đời háo hức định ghi nhật ký để rồi nửa đường đứt gánh bỏ dở.
Khi bắt tay viết họ thường tự nhỉ mình sẽ thành thực với mình.
Có biết đâu cái tôi của họ nghèo nàn nên đó là một sự thành
thực vô nghĩa. Và họ không sao tìm đủ nghị lực duy trì nhật ký
đến cùng.
Anne Frank thú nhận:
“Điều tuyệt diệu nhất là tôi có thể viết ra tất cả những gì
cảm nghĩ bằng không sẽ chết ngạt mất”.
“Những người nào không viết không biết được những kỳ
ảo của nó. Ngày xưa tôi luôn luôn đau đớn vì không biết vẽ;
nhưng bây giờ lòng tôi phơi phới vì ít ra tôi đã có thể viết”.
Thuỳ Trâm không có những tuyên bố hùng hồn như vậy,
nhưng quả thật với chị, nhật ký đã trở thành một phần cuộc
đời. Trong nhật ký chị tìm ra một con người khác với một
Thuỳ Trâm mọi người vẫn biết hằng ngày. Để chia sẻ. Để thú
nhận. Để tìm thêm niềm tin. Và đôi khi như là để làm nũng với
mình một chút, lối làm nũng chỉ chứng tỏ rằng vẫn có một thế
giới riêng của mình mà không ai thông cảm hết.
Tất cả những yếu tố đó làm nên sức hấp dẫn của những
trang nhật ký. Với chị, cái hấp dẫn ấy giúp chị có đủ hào hứng
ghi chép một cách đều đặn. Với người đọc hôm nay, nó làm
nên sức cuốn hút của những tâm sự, mặc dù trong hoàn cảnh
đổi khác, mọi người đã nghĩ khác.
Do đặc điểm riêng của chiến tranh, ngay từ những ngày ấy,
bao nhiêu công sức chúng ta để cả vào việc động viên nhau ra
trận. Còn chính cuộc sống mỗi người trong lúc đó thì mới
được ghi chép rất ít. Ba mươi năm sau, sự “tiêu hoá” vẫn dừng
lại ở trình độ cũ. Mỗi khi nói về chiến thắng, ta vẫn chỉ biết
nói với nhau những lời lẽ mọi người đã từng nghe mấy chục
năm trước. Tại sao? Phần thì những sôi động để kiếm sống để
tồn tại lúc nào cũng cuốn hút mọi người. Phần nữa cũng là bởi
ta chưa có ý thức đầy đủ về lịch sử, về sự có mặt của quá khứ
trong hiện tại. Công tác tổng kết về chiến tranh quá chậm, các
bộ phận lịch sử chiến tranh không hoạt động như đáng lẽ phải
hoạt động. Mỗi người bình thường chưa được gợi ý thu thập
lại các tài liệu đã ghi hoặc tìm tòi lại lục khi lại trong ký ức
những kỷ niệm xưa để viết ra thành những hồi ký có giá trị
chân thực.
***
Ngay sau khi biết rằng đây là một cuốn nhật ký viết trong
chiến tranh, có thể có bạn đọc - nhất là bạn đọc trẻ - sẽ hỏi: Lại
cho chúng tôi một tấm gương để bảo chúng tôi học theo chứ
gì?
Không đâu bạn ạ! Ở đây bạn sẽ không tìm thấy những lời
khuyên nhủ mà chỉ bắt gặp một con người với một cuộc sống
cụ thể của thời chiến. So với lớp thanh niên ngày nay, người
thanh niên của gần bốn chục năm trước có một cách sống
khác, một cách sống không lắm chiều cạnh phong phú, không
tự do nhiều vẻ, nhưng lại trong sáng thánh thiện
đến kỳ lạ. Sự tận tụy làm người của Thuỳ Trâm là nhân tố
khiến cho những người lính Mỹ khác hẳn về lý tưởng cũng
phải kính trọng. Còn với chúng ta, tin rằng nó cũng có những
hiệu ứng tương tự.
Trong cuốn lịch sử văn học thế kỷ XX đang có trong tay,
tôi bắt gặp một nhận xét của A. Malraux: “Điều huyền bí hơn
cả không phải là chúng ta bị ném vào mớ hỗn độn vật chất
cùng với hành tinh, mà là trong “lao tù” đó, chúng ta rút tỉa từ
bản thân cá nhân mình những nhân tố con người - nó cần vừa
đủ để cái hư không sẵn có trong chúng ta bị phủ nhận”
Câu nói mang trong mình nó nhiều triết lý, mà một trong
những triết lý đó là: trong sự muôn mày muôn vẻ của thực tại,
con người vẫn là mẫu số chung làm nên những giá trị vĩnh
cửu.
Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm có cái nhân tố nhân văn đầy bí
mật đó. Nếu cuốn sách có thể giúp mỗi người sau khi đọc
xong quay trở tại tìm ra những thiết tha cao đẹp và cả những
cay đắng bi thảm có thể có trong kiếp người của chính mình,
tức là sự hy sinh của một con người ở 27 có thêm một ý nghĩa
chân chính.
VƯƠNG TRÍ NHÀN
Câu chuyện về những tấm lòng
Sáng 25-4-2005, tôi nhận được một cú điện thoại bất ngờ.
Đó là điện thoại gọi đến từ văn phòng Quaker Hà Nội. Người
của văn phòng báo tin hiện có một người Mỹ đang giữ cuốn
nhật ký của chị gái tôi - liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Chị Thùy của
chúng tôi.
Chị tôi hi sinh năm 1970 tại chiến trường Quảng Ngãi.
Cống hiến của chị tôi ghi trong hồ sơ đề nghị truy tặng Huy
chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì rất đơn sơ: bác sĩ, hi
sinh tại chiến trường. Thời gian công tác: năm năm, ba tháng,
năm ngày…
Những kỷ vật còn lại của chị tôi do đồng đội gửi về chỉ
gồm mấy tấm ảnh, một số thư của gia đình từ miền Bắc gửi
vào. Các anh cũng nói chị tôi có ghi nhật ký – đó là thói quen
của chị tôi từ nhỏ - nhưng đã bị giặc lấy đi trong một trận càn.
***
Trung tuần tháng 3-2005, một cuộc hội thảo thường niên
về chiến tranh VN được tổ chức tại Trung tâm Việt Nam - Đại
học Texas, Mỹ. Rất nhiều người đến dự. Tại hội thảo, người ta
thảo luận về chiến tranh VN ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Frederic Whitehurst và Robert Whitehurst đã đến với bài nói
về nhật ký của một nữ bác sĩ Việt cộng mà Frederic nhận được
khi tham gia chiến tranh ở VN. Sự kiện thu hút được sự chú ý
của người nghe qua lời kể xúc động của Fred về quá trình từ
lúc nhận được cuốn nhật ký cho tới lúc quyết định tặng nó cho
viện lưu trữ về Việt Nam ở Lobbock, cũng như qua những
trang nhật ký đầy tình yêu thương và khát vọng hoà bình đã
được Robert dịch sang tiếng Anh. Buổi hội thảo kết thúc, mọi
người xôn xao đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều người ngỏ ý muốn
giúp Fred tìm gia đình nữ bác sĩ.
Ted Engelmann là một trong những người có mặt ở hội
thảo. Ba ngày sau khi hội thảo kết thúc, Ted sang VN. Ở Hà
Nội, anh đã nhờ một người bạn làm ở văn phòng Quaker Hà
Nội tìm giúp gia đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê. Những nhân
viên ở đây rất nhiệt tình, lần theo manh mối ít ỏi có trong cuốn
nhật ký, họ đã tìm sang tận Đông Anh, nơi bố tôi làm việc từ
gần 50 năm trước. Nhưng ở đó, người duy nhất làm việc cùng
thời với bố tôi cũng đã nghỉ hưu từ năm 2000. Bệnh viện
Đông Anh cử người về tận quê ông để hỏi địa chỉ gia đình tôi.
Ông lại chỉ sang Trường đại học Dược Hà Nội, nơi mẹ tôi
công tác trước khi về nghỉ hưu từ 20 năm trước. Cứ như thế,
bao trái tim nhân hậu đã chuyển tiếp cho nhau tín hiệu để cuối
cùng giúp Ted tìm được gia đình tôi và trao lại chiếc đĩa CD
chứa đựng tâm huyết của người viết nhật ký 35 năm về trước.
Những ngày sau đó tôi nhận được rất nhiều thư của hai anh
em Frederic Whitehurst và Robert Whitehurst. Họ kể về
những năm tháng ở VN và hành trình bao năm qua họ đã tìm
kiếm gia đình tôi như thế nào. Có những lúc họ tưởng như
tuyệt vọng không thể nào tìm được gia đình tôi, đã sợ rằng khi
họ chết đi, hai cuốn nhật ký của chị tôi sẽ nằm trong đống giấy
má bình thường không ai biết đến, bị quẳng đi, bị mục nát, bị
quên lãng. Họ nói với tôi rằng vì không còn hi vọng tìm được
gia đình tôi, họ đã có ý định in hai cuốn nhật ký thành sách để
cả thế giới được biết về một nữ bác sĩ cộng sản người Hà Nội
đã sống và đã chết ra sao. Họ mong rằng từ cuốn sách đó sự
nghiệp y tế của chị tôi sẽ còn được tiếp nối… Và trong nỗi
tuyệt vọng như thế, họ đã trao tặng hai cuốn nhật ký cho Viện
lưu trữ về VN Lubbock tại Trường đại học Tổng hợp Texas, để
chúng có thể được gìn giữ và chăm chút hơn khả năng họ có
thể làm được.
Dưới đây là bức thư đầu tiên của Fred gửi cho tôi:
“Thứ sáu 29-4-2005
Tôi là Frederic Whitehurst. Tôi đã giữ ký ức về chị cô, bác
sĩ Đặng Thùy Trâm, 35 năm nay. Tôi đã giữ cuốn nhật ký của
chị ấy suốt 35 năm. Ted Engelmann - người tôi chỉ mới vừa
biết - nói với tôi rằng anh ấy đã đến nhà cô và hiện nay cô đã
nhận được bản copy của hai cuốn nhật ký cùng những bức
ảnh. Có bao nhiêu điều tôi phải nói với cô, với gia đình cô và
đặc biệt là với mẹ cô. Sau bao nhiêu năm tìm kiếm, điều này
giống như một giấc mơ và việc tìm ra gia đình cô khiến tôi bật
khóc. Một người mẹ phải được biết về những ngày tháng của
con gái mình, một đất nước phải được biết về một người anh
hùng như bác sĩ Đặng. Mọi việc dường như thật thích hợp, mẹ
cô cần phải nhận được những dòng chữ của con gái mình
đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng đất nước bà - 30-42005…”.
Frederic Whitehurst - thường gọi là Fred là một sĩ quan
quân báo Mỹ tham chiến ở chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi
từ năm 1969-1971. Trong chiến tranh, nhiệm vụ của Fred là
thu thập các thông tin, tài liệu có giá trị quân sự để phân tích
tình hình, truy tìm dấu tích quân giải phóng, định hướng tập
kích hay càn quét. Nhiệm vụ đó khiến Fred có thể nhìn cận
cảnh cuộc chiến tranh và chứng kiến tận mắt những mất mát
khủng khiếp - cả đối với phía VN lẫn phía Mỹ. Fred đã chứng
kiến cảnh “cả một xóm nhỏ Nhơn Phước ở miền tây Đức Phổ
bị bom giội tan hoang không còn một người sống” (thư ngày
4-6-2005). Fred đã nhìn thấy những em nhỏ ở Chu Lai bị thiêu
cháy trong bom napalm. Fred đã chứng kiến viên trung úy chỉ
huy trực tiếp của mình gần như mất trí vì không chịu nổi cảnh
các nhân viên y tế Mỹ “đơn giản cứ nhặt bừa bất kỳ một cánh
tay, cẳng chân nào đó lắp vào xác bạn mình cho vào quan tài
gửi về Mỹ” (thư ngày 4-6-2005). Những cảnh chứng kiến đó
đã ám ảnh Fred trong bao năm nay từ khi rời VN trở về.
Nhưng cũng từ những ngày khốc liệt đó, Fred đã nhìn thấy
cuộc chiến tranh từ một ánh sáng hoàn toàn khác biệt.
Trong một trận tập kích vào một “căn cứ của Việt cộng”,
sau khi tiếng súng đã im, đơn vị của Fred tiến vào và nhận
thấy đây là một bệnh viện nhỏ. Có rất nhiều lán trại, nhiều
phòng - rõ ràng là phòng bệnh, cả một phòng mổ dã chiến. Có
vẻ mọi người trong bệnh viện đã vội vã đi khỏi ngay trước khi
quân Mỹ ập tới và không kịp mang theo tài liệu.
Theo qui định của quân đội Mỹ, mọi tài liệu của địch thu
được trên chiến trường phải chuyển lại cho bộ phận quân báo
nghiên cứu. Hôm đó Fred thu nhặt được rất nhiều tài liệu.
Cùng với thông dịch viên người Việt, Fred chọn lọc các tài
liệu có giá trị quân sự, số còn lại họ vứt vào đống lửa để thiêu
hủy.
Fred đang đốt những tài liệu loại bỏ thì thượng sĩ Nguyễn
Trung Hiếu - thông dịch viên của đơn vị - cầm một cuốn sổ
nhỏ đến cạnh anh và nói: “Fred, đừng đốt cuốn sổ này. Bản
thân trong nó đã có lửa rồi”. Fred chưa hiểu đó là cuốn sổ gì,
nhưng vẻ xúc động của Hiếu và việc Hiếu có thể kính trọng cả
đối phương tác động rất mạnh đến anh, Fred bỏ cuốn sổ vào
túi.
Nhiều đêm sau đó Fred và Hiếu cùng nhau đọc cuốn sổ.
Đó là nhật ký của một Việt cộng, chính là nữ bác sĩ đứng đầu
cái bệnh viện nhỏ mà đơn vị Fred càn vào. Nét chữ nghiêng
nghiêng đầy nữ tính. Anh càng tò mò hơn khi Hiếu cho biết nữ
bác sĩ đó còn rất trẻ, mới 26 tuổi và từ Hà Nội vào Đức Phổ
công tác chưa được hai năm.
Rồi như một định mệnh, mấy tháng sau Fred nhận được
cuốn nhật ký thứ hai của nữ bác sĩ, cũng do Nguyễn Trung
Hiếu đem về. Những dòng chữ rực lửa khiến Fred vô cùng xúc
động - mặc dù anh chỉ được nghe qua lời dịch vội của Nguyễn
Trung Hiếu và đó là những dòng chất chứa căm thù đối với
quân Mỹ. Những dòng đầy yêu thương, hi vọng khiến anh vô
cùng ngạc nhiên. Anh không hiểu nổi bắt nguồn từ đâu mà
một người con gái có thể nhìn thấy cái đẹp của màu xanh giữa
chiến trường mịt mù bom đạn, vì sao cô ấy có thể nghe nổi
bản giao hưởng êm đềm khi quân Mỹ gần như luôn bám sát
sau lưng.
Năm 1972, Fred được rời VN và trở về Mỹ. Trong hành lý
của anh có những kỷ vật nặng trĩu của chiến tranh: hai cuốn
nhật ký của nữ bác sĩ, hơn 50 tấm ảnh chụp những người dân
Quảng Ngãi trong chiếc máy ảnh Canon bị bắn thủng lấy được
trên xác một phóng viên Việt cộng, chiếc đục nhỏ rơi bên xác
một người thợ mộc già bị giết hại. Cũng từ đó VN trở thành
một nỗi ám ảnh trong anh.
Năm tháng trôi qua, với những ám ảnh về chiến tranh, về
tội ác đã được chứng kiến ở Việt Nam đè nặng trong tim, Fred
đã nhiều lần quay lưng lại với cái xấu, không chấp nhận cái
xấu – dù chỉ là gián tiếp. Anh đã tìm được nhiều điều tốt đẹp,
đã từng kiện cả Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI), cả giám đốc
FBI, cả chính phủ Mỹ vì những việc làm sai trái và đã thắng
tất cả những thế lực đó trong một vụ kiện nổi tiếng cả trong
nước Mỹ lẫn trên thế giới. Một lúc khác tôi sẽ nói thêm nhiều
về anh.
Mẹ của Fred là một nhà giáo và là họa sĩ. Khi Fred cho mẹ
xem cuốn nhật ký, bà đã bảo con trai hãy cẩn thận, bởi vì hai
cuốn sổ này có thể thiêu cháy cuộc đời anh.
Quả vậy, trái tim Fred luôn bị nung ngấu vì ngọn lửa toả ra
từ hai cuốn sổ nhỏ ố vàng. Anh không thể nào ngủ yên mà cứ
trăn trở muốn làm một cái gì vì người nữ bác sĩ ấy. Chị còn
sống hay đã chết? Nếu đã chết có phải chị chết một cách tuyệt
vời đúng như đã sống cuộc đời tuyệt vời mà anh đọc được qua
nhật ký? Gia đình nữ bác sĩ ở đâu? Mẹ chị có biết rằng bà có
một người con gái anh hùng đến thế nào không?
Fred đã nhiều lần thử tìm đến gia đình nữa bác sĩ. Qua
những trang nhật ký, anh biết chị tốt nghiệp trường Đại học Y
khoa Hà Nội, nên lục tìm khắp nơi mọi thông tin chi tiết về
trường đó mong có manh mối gì chăng. Anh bắt gặp tên tuổi
hai giáo sư nổi tiếng là Giáo sư Đặng Văn Chung và Giáo sư
Đặng Văn Ngữ. Anh biết tên chị là Đặng Thuỳ Trâm - biết đâu
họ đều là người trong dòng họ Đặng? Anh biết mẹ chị tên là
Doãn Ngọc Trâm, nhưng địa chỉ của bà chỉ là một dãy số bí ẩn
ghi ở cuối cuốn nhật ký. Anh biết bố chị là bác sĩ Đặng Ngọc
Khuê, giám đốc một bệnh viện cách Hà Nội không xa. Anh
đoán đó là bệnh viện tư của gia đình chị - rõ ràng chị xuất thân
từ một gia đình trí thức. Anh biết nhà chị ở một phố nhỏ tên là
Lò Đúc. Nhưng anh cũng biết trong chiến tranh Hà Nội đã bị
ném bom. Biết đâu gia đình chị cũng đã chết hết trong một
trận bom nào đó? Anh đã hỏi nhiều người, nhưng những năm
sau chiến tranh tìm một người nào đó ở Việt Nam là điều hầu
như không thể đối với anh. Mãi cách đây mấy năm mới có một
người bạn liên hệ được với họ hàng ở Hà Nội và nói với anh
rằng gia đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê vẫn còn sống. Nhưng
không hiểu sao người đó không muốn tìm tiếp và bảo anh
đừng nói thêm với cô về cuốn nhật ký nữa.
***
Robert Whitehurst cũng là một cựu chiến binh ở chiến
trường VN nhưng chưa từng có mặt ở chiến trường Nam
Trung bộ. Hai năm hoạt động ở vùng đồng bằng sông Cửu
Long khiến Rob đem lòng yêu mến miền đất này cùng những
con người VN hiền hòa, giàu tình cảm. VN đã trở thành một
phần đời của Rob vì anh cưới một người con gái xứ Long
Xuyên. Anh học tiếng Việt, thích ăn món ăn Việt, thích đem
những cây cỏ VN về Mỹ để trồng, thậm chí có lần còn cố gửi
về Mỹ một chiếc xuồng ba lá để vợ đỡ nhớ quê.
Rob được đọc cuốn nhật ký của bác sĩ Thùy Trâm sau khi
từ Mỹ trở về năm 1972. Ngay từ đầu cuốn nhật ký đã khiến
anh sửng sốt. Cùng với sự giúp đỡ của vợ, anh đọc đi đọc lại
cuốn nhật ký, càng đọc anh càng bị lay động trước những gì
diễn ra trong tâm hồn người con gái ở bên kia chiến tuyến.
Anh viết cho mẹ tôi: “Tất cả những ai từng được chúng tôi
cho xem cuốn nhật ký đều xúc động trước những điều chị cô
viết. Chúng tôi nghĩ chị không chỉ là một anh hùng của riêng
ai, nghĩa là mặc dù những ký ức của chị rất quí giá đối với cô
cũng như đối với chúng tôi, nhưng sự nghiệp của chị còn rất
có ý nghĩa với tất cả mọi người. Những dòng chữ của chị có
một sức kêu gọi tuyệt vời.Mặc dù chị ở bên kia chiến tuyến
trong cuộc chiến tranh giữa chúng ta, nhưng ngay từ đầu
những năm 1970, Fred và tôi đã cảm thấy chị vô cùng đáng
ngưỡng mộ, đáng tôn kính và là một người tốt. Hi vọng sau khi
đọc những dòng chữ viết từ quá khứ ấy, cô sẽ đồng ý với
chúng tôi… rằng theo một nghĩa nào đó chị là của riêng gia
đình cô, nhưng theo một nghĩa rất quan trọng chị là của tất cả
chúng ta” (thư ngày 29-4-2005).
Rồi Rob tìm được trên mạng Internet một nơi gọi là Trung
tâm VN (Vietnam Center) ở Trường đại học Tổng hợp Texas
và biết rằng tại đây người ta vẫn tổ chức hội thảo thường niên
về chiến tranh VN. Có rất nhiều người tới dự hội thảo này: các
học giả, các vị đại sứ, các viên tướng, các cựu chiến binh VN
của cả hai phía miền Nam và miền Bắc. Robert động viên Fred
đến dự hội thảo và nói về cuốn nhật ký của nữ bác sĩ. Cuộc hội
thảo diễn ra như tôi đã nói lúc đầu. Trong sự xúc động sâu sắc,
Fred và Rob đưa cho nhiều người đĩa CD chứa bản sao cuốn
nhật ký của chị tôi, mong rằng giống như trong câu chuyện cổ
tích tốt đẹp nọ, cuốn nhật ký sẽ tìm được về với quê hương, về
với gia đình người nữ bác sĩ mà họ ngưỡng mộ như một anh
hùng.
ĐẶNG KIM TRÂM
NHỮNG NGÀY RỰC LỬA
QUYỂN MỘT
1968
8.4.68
Một cas ruột thừa trong điều kiện thiếu thốn. Thuốc giảm
đau chỉ có vài ống Novocaine nhưng người thương binh trẻ
không hề kêu la một tiếng. Anh còn cười động viên mình nhìn nụ cười gượng trên đôi môi khô vì mệt nhọc, mình
thương anh vô cùng. Rất đau xót rằng sự nhiễm trùng trong ổ
bụng không do ruột thừa vỡ. Tìm kiếm gần một giờ không
thấy nguyên nhân, mình đành đóng lại, cho đặt dẫn lưu và đổ
kháng sinh trong ổ bụng. Nỗi băn khoăn của một người thầy
thuốc + nỗi thương xót mến phục người thương binh ấy làm
mình không thề yên bụng. Vuốt nhẹ mái tóc anh, mình muốn
nói với anh rằng: với những người như anh mà tôi không cứu
chữa được thì đó là điều đau xót khó mà phai đi trong cuộc đời
phục vụ của một người thầy thuốc.
10 4.58
Vậy là chiều nay các anh lên đường để lại cho mọi người
một nỗi nhớ mênh mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi
rồi nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại bóng dáng các anh: những
con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp, những câu
thơ thắm thiết yêu thương. Nghe anh Tuấn ra lệnh: “Tất cả ba
lô lên đường!”. Những chiếc ba lô vụng về may bằng những
tấm bao Mỹ đã gọn gàng trên vai, mọi người còn nấn ná đứng
lại trước mình bắt tay chào mình một lần cuối. Bỗng dưng một
nỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong mình như
mặt sông những ngày mưa lũ và… mình khóc ròng đến nỗi
không thể đáp lại lời chào của mọi người. Thôi! Các anh đi đi,
hẹn một ngày gặp lại lại trên miền Bắc thân yêu…
Suốt một đêm một ngày lo lắng vì cas mổ của San, chiều
nay lòng mình vui sướng xiết bao khi thấy San ngồi dậy, nét
mặt anh còn in nỗi đau đớn mệt nhọc nhưng nụ cười ngượng
nở trên môi. Bàn tay anh khẽ nắm bàn tay mình mến thương
tin tưởng ơi người thương binh trẻ tuổi dũng cảm kia ơi, tôi
thương anh bằng một tình thương rộng rấl nhưng rất sâu xa:
tình thương cửa một người thầy thuốc trước bệnh nhân, tình
thương của một người chị đối với đứa em đau ốm (thực ra San
bằng tuổi mình) và tình thương ấy đặc biệt hơn đối với mọi
người vì cộng thêm că lòng mến phục. Anh có thấy điều đó
trong cái nhìn lo âu của tôi không? Có thấy bàn tay tôi dịu
dàng đặt nhẹ trên vết thương, trên đôi tay xanh gay của anh đó
không Chúc San mau bình phục để trở về với đội ngũ chiến
đấu, trở về với bà mẹ già đang vò vo ngóng trông con từng
giờ, từng phút.
12.4.68
Rừng chiều sau một cơn mưa, những lá cây xanh trong
trước ánh nắng, mỏng mảnh xanh gầy như bàn tay một cô gái
cấm cung.
Không khí trầm lặng và buồn lạ lùng. Cả khu nhà bệnh
nhân im lặng, bên khu nhân viên cũng chỉ nghe thấy tiếng
Hường rì rầm trò chuyện với ai. Một nỗi nhớ mênh mang bao
trùm quanh mình. Nhớ ai? Nhớ ba, nhớ má, nhớ những người
vừa ra đi… và nhớ cả một người bệnh nhân đang chờ mình
đến với anh nữa. Bên trong nỗi nhớ hình như có một nỗi buồn
sâu kín, thầm lặng nhưng rất nặng nề. Dù sao vết thương lòng
vẫn đang rỉ máu, dù mình có muốn lấy công việc lấy mọi nỗi
nhớ khác đè lên trên, nó vẫn trỗi dậy, xót xa vô cùng. Hãy
quên đi Th. ơi! Hãy quên đi mà tìm lại niềm hy vọng mới mẻ
xanh tốt trong lành hơn. Hãy lấy niềm tự hào mà quên đi thất
vọng. Con người ấy đâu có xứng đáng với tình yêu trong
trắng, chung thuỷ của Thuỳ.
Ơi những người thân yêu của tôi trên quê hương Đức Phổ
này, có ai hiểu và cảm thông hết nỗi lòng tôi chăng? Nỗi lòng
một cô gái đay ước mơ hy vọng mà không đượ...
Lời giới thiệu
Câu chuyện về những tấm lòng
NHỮNG NGÀY RỰC LỬA
QUYỂN MỘT
1969
Năm qua thắng lợi vẻ vang
Nơi ấy là khoảng trời anh ở
QUYỂN HAI
ĐẰNG SAU CUỐN NHẬT KÝ
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm sinh ngày 26 tháng 11
năm 1942, trong một gia đình trí thức. Bố là bác sĩ ngoại khoa
Đặng Ngọc Khuê, mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm – Nguyên
giảng viên trường Đại học Dược khoa Hà Nội.
Tốt nghiệp trường Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966,
Thuỳ Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường B. Sau ba
tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3 năm 1967 chị vào đến
Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện
Đức Phổ, một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu điều trị cho các
thương bệnh binh.
Chị được kết nạp Đảng ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ
vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, chị bị địch phục kích và hy sinh
anh dũng lúc mới chưa đầy 28 tuổi đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm
tuổi nghề.
Hài cốt của chị được đồng bào địa phương na táng tại nơi
chị ngã xuống và luôn hương khói. Sau giải phóng, chị được
gia đình và đồng đội đưa về nghĩa trang Liệt sĩ xả Phổ Cường.
Năm 1990, gia đình đã đưa chị về yên nghĩ tại nghĩa trang Liệt
sĩ xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu hai cuốn nhật ký của
Liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm ghi trong những ngày ở chiến trường.
Bản thân hai cuốn nhật ký này cũng có một số phận kỳ lạ:
chúng rơi vào tay những con người có lương tri bên kia chiến
tuyến, được họ giữ gìn và tìm mọi cách để đưa về cho gia đình
chị. Sau hơn một phần ba thế kỷ lưu lạc, đúng vào dịp kỷ niệm
30 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
(30.4.2005), nó đã trở về với gia đình liệt sĩ. Hiện cuốn nhật
ký được lưu giữ tại Viện Lưu trữ về Việt Nam ở Lubbock,
Texas, Mỹ.
Trong quá trình biên soạn và chỉnh lý, chúng tôi cố gắng
tôn trọng nguyên bản câu văn cũng như những thói quen dùng
từ và ngữ pháp của tác giả - chỉ sửa lại một số từ địa phương
hoặc lược bớt những từ trùng lặp. Chúng tôi cũng chú giải một
số điểm cần thiết để bạn đọc có thể hiểu hơn hoàn cảnh cũng
như lịch sử và bản thân tác giả.
Ngoài ra, trong phần ảnh tư liệu, được phép của những
người có liên quan, chúng tôi có sử dụng những bức ảnh trong
album gia đình, ảnh chụp ở Quảng Ngãi trong những năm
1969 – 1970 do Frederic Whitehurst cung cấp và một số bức
ảnh do liệt sĩ Nguyễn Văn Giá – Phóng viên hãng phim Thời
sự - Tài liệu Việt Nam chụp tháng 10.1969 ở thôn Nga Mân,
xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ - Quảng Ngãi trước khi anh hy
sinh.
Lời giới thiệu
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Thời chống Mỹ từng có một bác sĩ,
một con người, tên là Đặng Thuỳ Trâm…
Tác giả những dòng nhật ký sua đây bạn đọc sẽ đọc thuộc
về một lớp người khá đặc biệt trong đời sống tinh thần xã hội
ta từ sau 1945 - họ có mặt trong công cuộc chiến đấu chống
Mỹ từ mấy năm đầu tiên, khi ở miền Nam, các cơ sở cách
mạng triển khai đến tận nhiều huyện đồng bằng, và trên toàn
quốc, cuộc chiến tranh dù đã gian khổ nhưng chưa có cái
không khí bức bối khắc nghiệt như từ đầu những năm 70 trở
đi.
Và một điều đáng nói nữa: trước đó, họ thuộc lứa thanh
niên đầu tiên được đào tạo theo tinh thần của những người đi
kháng chiến chống Pháp, cái tinh thần “cuộc sống mới”, ấp ủ
từ những ngày Việt Bắc gian khổ mà hào hùng
Hà Nội trước chiến tranh thanh bình, yên ả lạ thường. Bao
trùm xã hội là một không khí thiêng liêng, thành kính. Ngay
đối với người dân thường mọi chuyện làm ăn sinh sống chỉ có
ý nghĩa là sự chuẩn bị cho ngày mai có mặt ở chiến trường.
Nền kinh tế tem phiếu chưa làm mấy ai khó chịu. Trong tâm
trí đám học trò chúng tôi (tôi với Thùy Trâm vốn học cùng lớp
trong suốt ba năm cấp ba ở trường Chu Văn An, nên dưới đây,
việc dùng chữ chúng tôi là có một lý do chính đáng) lúc nào
cũng thấm đẫm tinh thần lãng mạn của Ruồi trâu, của Pavel
Korsaghin trong Thép đã tôi thế đấy và cả của Marius và
Cosette trong Những người khốn khổ. Sách vở lúc ấy là đồng
nghĩa với văn hoá. Thêm một điã nhạc cổ điển, với một vài
bông hoa trên bàn nữa thì coi như mãn nguyện hoàn toàn. Có
mặt trong đám đông dự mít tinh ở quảng trường Ba Đình trong
một ngày lễ lớn (trước 1965, những ngày lễ lớn bao giờ cũng
có mít tinh, đâu cả chục ngàn người), anh bạn tôi mặt ngẩng
cao dõi theo mấy cánh chim bay mãi vào những đám mây xa.
Đêm giao thừa ngay khi có chiến tranh rồi thì mấy ngày Tết
vẫn có ngừng bắn, cũng như mọi người, chúng tôi dắt xe đạp
đi bộ quanh Hồ Gươm trong tiếng nhạc dập dìu của mấy bài
Hà Nội Huế Sài Gòn, Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó…
Và có thể nói mà không sợ ngoa là từ đấy, nhiều người đi
thẳng ra chiến trường.
Nhật ký tôi viết mấy năm ấy còn ghi lại được hình ảnh về
những người lính ớ đánh Khe Sanh 1967: Quần áo ba lô người
nào cũng tinh tươm, niềm tin sáng bừng trong mắt, chỉ sợ
không đi thì lỡ mất dịp có mặt trong lễ chiến thắng.
Một niềm tin tưởng như chỉ có ở tôn giáo - thứ niềm tin
mang đầy cảm giác thánh thiện - chi phối hành động mọi
người. Lao vào chiến tranh lúc ấy không phải chỉ là nghĩa vụ
mà còn là niềm ao ước, là vinh dự mà nhiều anh em chúng tôi
cảm thấy phải giành lấu bằng được.
Tốt nghiệp đại học 1966, Thuỳ Trâm lại xung phong đi khá
xa, vào tận Đức Phổ, Quảng Ngãi. Ở đó chị làm công việc đặc
trưng cho người phụ nữ trong chiến tranh là phụ trách một
bệnh viện huyện, và từ đó tạo nên cho mình một số phận.
Không phải ngẫu nhiên, hai người lính thám báo Mỹ hôm
qua, trong bức thư gởi tới người mẹ của liệt sĩ vừa viết mới
đây, khẳng định một cách chắc chắn như đinh đóng cột: “Trên
bất cứ đất nước nào trên thế giới, điều đó đều được gọi là anh
hùng”
Họ muốn nói tới cái sự việc từng ám ảnh họ một thời gian
dài: người bác sĩ này đã đứng ra cầm súng bảo vệ cho những
thương binh, và đã ngã xuống như một người lính vừa rời tay
súng.
Tuy nhiên, theo tôi, trước khi để cái hành động dũng cảm
cuốn cùng Thuỳ Trâm “đóng đinh” vào tâm trí mình, những
người lính bên kia chiến tuyến thật ra đã bị chinh phục. Phải
có một nhân tố nào nữa, thiết yếu hơn, khiến họ tự nhủ phải
cứu bằng được cuốn nhật ký rồi bị hút theo chị, mải miết tìm
cách giải mã những dòng chữ chị ghi và sau này còn để rất
nhiều thời gian lần theo dấu vết của chị.
Chỉ có toàn bộ con người Thuỳ Trâm mới đóng nổi vai trò
đẹp đẽ đó.
Gần đây, khi đi ra với thế giới, nhiều người trong chúng ta
chợt hiểu ra một sự thực: hai chữ Việt Nam bấy lâu mới chỉ
gắn với một cuộc chiến tranh. Và chúng ta còn phải phấn đấu
nhiều để người ta hiểu rằng việt Nam còn là một xã hội, một
đất nước, một nền văn hoá.
Ngay từ lúc ấy, trong vai trò một chiến sĩ, Thuỳ Trâm đã tự
chứng tỏ mình mình còn là một con người với nghĩa rộng rãi
nhất của từ này.
Một mặt, chị có ý thức về bổn phận. Chị yêu thương mọi
người. Chị đau nỗi đau của mỗi bệnh nhân đến với mình. Chị
muốn trở thành một người tốt. Những cách nói mà với một số
bạn trẻ ngày nay tưởng như là công thức (chẳng hạn trái tim
đập cùng một nhịp với nhân dân đất nước, chẳng hạn niềm yêu
thương vô hạn độ) chính là những lẽ sống đã được Thuỳ Trâm
tự nguyện chấp nhận.
Mặt khác,chị vẫn dành riêng cho mình một cuộc sống
riêng tư. Chị tha thiết với thiên nhiên cây cỏ. Một phần tháng
ngày của chị được dệt bằng những vui buồn của quá khứ.
Trong khi thất bại trong tình cảm riêng. con người này lại biết
tìm ra ngay từ bằng người chung quanh những yếu tố tốt đẹp,
rồi lý tưởng hoá thêm lên để biến họ thành những biểu tượng
sinh động, bù đắp cho một cuộc đống nội tâm vốn quá dồi dào,
quá nồng nhiệt.
Có một quy ước những ai ở vào lứa tuổi chúng ta đều biết
và tự nguyện ghi nhớ, tự nguyện tuân theo, đó là không nên
nói nhiều đến cô đơn cùng nỗi buồn. Sự phức tạp của tình cảm
lại càng là điều cấm kỵ.
Cái gì cũng phải rành rẽ. Đơn giản. Rõ ràng - cái kiểu rõ
ràng thô thiển một chiều. Về phần mình mặc dù là con người
hết lòng tin vào lý tưởng, song Thuỳ Trâm không bị những
luật lệ không ghi thành văn bản ấy ràng buộc. Với sự nhạy
cảm của một trí thức, chị lắng nghe trong mình mọi băn khoăn
xao động. Chị không xa lạ với những phân vân khó xử. Trong
nhật ký, người nữ bác sĩ ghi ra gần hết tất cả những cung bậc
tình cảm mà ai người ở vào địa vị ấy đều trải qua, và có cảm
tưởng chỉ làm như vậy mới tìm được sự cân bằng cần thiết.
Tuy cái chết không được miêu tả nhiều trong nhật ký,
nhưng trong tâm trí Thuỳ Trâm, nó luôn luôn có mặt. Nó đứng
thấp thoáng đằng sau các sự kiện, và cuộc đối diện với cái chết
làm nên một phần nội dung cuộc sống, tức cũng là làm nên vẻ
đẹp cao thượng của con người lúc đó mới 27 tuổi này. Đọc
nhiều trang, nhất là nửa phần viết về sau, khi đề cập tới nhiều
hy sinh mất mát, tôi không khỏi liên tưởng đến nhiều tác phẩm
văn học có liên quan tới cùng một chủ đề.Đây là một bài thơ
mà nhà thơ Nga Aleksei Surkov đã viết trong cuộc chiến tranh
chống Phát xít:
Trong hầm ta ánh lửa sáng ngời
Từng thanh củi bọt sùi như lệ ứa
Tiếng đàn dạo một điệu trầm và nhẹ
Ca ngợi mắt em ca ngợi nụ cười em
Anh ở đây trên tuyết gần Mạc Tư Khoa
Những hàng dương đang ngọt ngào thầm thĩ
Cái bản tình ca anh vừa hát ấy
Bản tình ca buồn anh mong được em nghe
Giữa đôi ta dù xa cách mênh mong
Dù cái chết đến gần anh mấy bước
Dù có cả một cánh đồng băng tuyết
Trên đương dài ta vẫn đến gặp nhau
Ta hát ta đàn ta dẹp yên bão táp
Hạnh phúc mất ở ta dẫn nó trở về
Tình yêu sưởi chiến hào thêm ấm áp
Tình yêu này sáng mãi giữa tim anh.
Tôi dự đoán là đã có những lúc Thuỳ Trâm sống cái cảm
giác mà bài thơ diễn tả, dù là không biết gì về nó. Hồi ở Hà
Nội, chị cũng rất thích âm nhạc và thường quan âm nhạc để
hình dung ra những gì thiết yếu của đời sống - sự hoà hợp, tình
yêu, hạnh phúc.
***
Ngoài những Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu, thơ Từ ấy của
Tố Hữu , thơ Đợi anh về của Simonov, vào những ngày đọc lại
nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm để góp phần chỉnh lý và biên tập
lại thành một cuốn sách, thường trong đầu óc tôi còn trở đi trở
lại một vài tác phẩm nước ngoài khác, đặc biệt là trường hợp
Nhật ký Anne Frank.
Chỗ giống nhau đầu tiên: Đây đều là những tác phẩm viết
về con người đối diện với chiến tranh. Trong cuộc sống khó
khăn của một người bị ép phải chui nhủi trong một nơi ẩn náu,
cô thiếu nữ Do Thái mang tên Anne Frank vẫn tìm đủ không
gian để thể nghiệm mọi cảm giác làm người bình thường, và
điều đó làm cô tự hào.
“Tôi có cái can đảm sống khác thường. Tôi luôn luôn cảm
thấy mình sao khoẻ thế, sao tự do và trẻ trung thế.”
“Thật lạ cho điều này: tôi chưa bao giờ rời bỏ hy vọng.
Chúng có vẻ phi lý và khó thành tựu. Song mặc tất cả, tôi vẫn
bám vào chúng. Vì tôi tiếp tục tin vào lòng tốt thiên bẩm của
con người.”
Những dòng chữ đơn giản đó hoàn toàn có thể đặt lẫn vào
nhật ký Thuỳ Trâm mà không gượng gạo.
Còn một đếm nữa làm nên sự gần gũi giữa Thuỳ Trâm với
Anne Frank, nó cũng là lý do khiến bọn tôi chọn cho tập ghi
chép của chị cái tên đơn giản như hiện nay, đó là cái thể loại
mà họ sử dụng - thể nhật ký.
Trong đời sống không thiếu gì những người khi bước vào
đời háo hức định ghi nhật ký để rồi nửa đường đứt gánh bỏ dở.
Khi bắt tay viết họ thường tự nhỉ mình sẽ thành thực với mình.
Có biết đâu cái tôi của họ nghèo nàn nên đó là một sự thành
thực vô nghĩa. Và họ không sao tìm đủ nghị lực duy trì nhật ký
đến cùng.
Anne Frank thú nhận:
“Điều tuyệt diệu nhất là tôi có thể viết ra tất cả những gì
cảm nghĩ bằng không sẽ chết ngạt mất”.
“Những người nào không viết không biết được những kỳ
ảo của nó. Ngày xưa tôi luôn luôn đau đớn vì không biết vẽ;
nhưng bây giờ lòng tôi phơi phới vì ít ra tôi đã có thể viết”.
Thuỳ Trâm không có những tuyên bố hùng hồn như vậy,
nhưng quả thật với chị, nhật ký đã trở thành một phần cuộc
đời. Trong nhật ký chị tìm ra một con người khác với một
Thuỳ Trâm mọi người vẫn biết hằng ngày. Để chia sẻ. Để thú
nhận. Để tìm thêm niềm tin. Và đôi khi như là để làm nũng với
mình một chút, lối làm nũng chỉ chứng tỏ rằng vẫn có một thế
giới riêng của mình mà không ai thông cảm hết.
Tất cả những yếu tố đó làm nên sức hấp dẫn của những
trang nhật ký. Với chị, cái hấp dẫn ấy giúp chị có đủ hào hứng
ghi chép một cách đều đặn. Với người đọc hôm nay, nó làm
nên sức cuốn hút của những tâm sự, mặc dù trong hoàn cảnh
đổi khác, mọi người đã nghĩ khác.
Do đặc điểm riêng của chiến tranh, ngay từ những ngày ấy,
bao nhiêu công sức chúng ta để cả vào việc động viên nhau ra
trận. Còn chính cuộc sống mỗi người trong lúc đó thì mới
được ghi chép rất ít. Ba mươi năm sau, sự “tiêu hoá” vẫn dừng
lại ở trình độ cũ. Mỗi khi nói về chiến thắng, ta vẫn chỉ biết
nói với nhau những lời lẽ mọi người đã từng nghe mấy chục
năm trước. Tại sao? Phần thì những sôi động để kiếm sống để
tồn tại lúc nào cũng cuốn hút mọi người. Phần nữa cũng là bởi
ta chưa có ý thức đầy đủ về lịch sử, về sự có mặt của quá khứ
trong hiện tại. Công tác tổng kết về chiến tranh quá chậm, các
bộ phận lịch sử chiến tranh không hoạt động như đáng lẽ phải
hoạt động. Mỗi người bình thường chưa được gợi ý thu thập
lại các tài liệu đã ghi hoặc tìm tòi lại lục khi lại trong ký ức
những kỷ niệm xưa để viết ra thành những hồi ký có giá trị
chân thực.
***
Ngay sau khi biết rằng đây là một cuốn nhật ký viết trong
chiến tranh, có thể có bạn đọc - nhất là bạn đọc trẻ - sẽ hỏi: Lại
cho chúng tôi một tấm gương để bảo chúng tôi học theo chứ
gì?
Không đâu bạn ạ! Ở đây bạn sẽ không tìm thấy những lời
khuyên nhủ mà chỉ bắt gặp một con người với một cuộc sống
cụ thể của thời chiến. So với lớp thanh niên ngày nay, người
thanh niên của gần bốn chục năm trước có một cách sống
khác, một cách sống không lắm chiều cạnh phong phú, không
tự do nhiều vẻ, nhưng lại trong sáng thánh thiện
đến kỳ lạ. Sự tận tụy làm người của Thuỳ Trâm là nhân tố
khiến cho những người lính Mỹ khác hẳn về lý tưởng cũng
phải kính trọng. Còn với chúng ta, tin rằng nó cũng có những
hiệu ứng tương tự.
Trong cuốn lịch sử văn học thế kỷ XX đang có trong tay,
tôi bắt gặp một nhận xét của A. Malraux: “Điều huyền bí hơn
cả không phải là chúng ta bị ném vào mớ hỗn độn vật chất
cùng với hành tinh, mà là trong “lao tù” đó, chúng ta rút tỉa từ
bản thân cá nhân mình những nhân tố con người - nó cần vừa
đủ để cái hư không sẵn có trong chúng ta bị phủ nhận”
Câu nói mang trong mình nó nhiều triết lý, mà một trong
những triết lý đó là: trong sự muôn mày muôn vẻ của thực tại,
con người vẫn là mẫu số chung làm nên những giá trị vĩnh
cửu.
Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm có cái nhân tố nhân văn đầy bí
mật đó. Nếu cuốn sách có thể giúp mỗi người sau khi đọc
xong quay trở tại tìm ra những thiết tha cao đẹp và cả những
cay đắng bi thảm có thể có trong kiếp người của chính mình,
tức là sự hy sinh của một con người ở 27 có thêm một ý nghĩa
chân chính.
VƯƠNG TRÍ NHÀN
Câu chuyện về những tấm lòng
Sáng 25-4-2005, tôi nhận được một cú điện thoại bất ngờ.
Đó là điện thoại gọi đến từ văn phòng Quaker Hà Nội. Người
của văn phòng báo tin hiện có một người Mỹ đang giữ cuốn
nhật ký của chị gái tôi - liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Chị Thùy của
chúng tôi.
Chị tôi hi sinh năm 1970 tại chiến trường Quảng Ngãi.
Cống hiến của chị tôi ghi trong hồ sơ đề nghị truy tặng Huy
chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì rất đơn sơ: bác sĩ, hi
sinh tại chiến trường. Thời gian công tác: năm năm, ba tháng,
năm ngày…
Những kỷ vật còn lại của chị tôi do đồng đội gửi về chỉ
gồm mấy tấm ảnh, một số thư của gia đình từ miền Bắc gửi
vào. Các anh cũng nói chị tôi có ghi nhật ký – đó là thói quen
của chị tôi từ nhỏ - nhưng đã bị giặc lấy đi trong một trận càn.
***
Trung tuần tháng 3-2005, một cuộc hội thảo thường niên
về chiến tranh VN được tổ chức tại Trung tâm Việt Nam - Đại
học Texas, Mỹ. Rất nhiều người đến dự. Tại hội thảo, người ta
thảo luận về chiến tranh VN ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Frederic Whitehurst và Robert Whitehurst đã đến với bài nói
về nhật ký của một nữ bác sĩ Việt cộng mà Frederic nhận được
khi tham gia chiến tranh ở VN. Sự kiện thu hút được sự chú ý
của người nghe qua lời kể xúc động của Fred về quá trình từ
lúc nhận được cuốn nhật ký cho tới lúc quyết định tặng nó cho
viện lưu trữ về Việt Nam ở Lobbock, cũng như qua những
trang nhật ký đầy tình yêu thương và khát vọng hoà bình đã
được Robert dịch sang tiếng Anh. Buổi hội thảo kết thúc, mọi
người xôn xao đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều người ngỏ ý muốn
giúp Fred tìm gia đình nữ bác sĩ.
Ted Engelmann là một trong những người có mặt ở hội
thảo. Ba ngày sau khi hội thảo kết thúc, Ted sang VN. Ở Hà
Nội, anh đã nhờ một người bạn làm ở văn phòng Quaker Hà
Nội tìm giúp gia đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê. Những nhân
viên ở đây rất nhiệt tình, lần theo manh mối ít ỏi có trong cuốn
nhật ký, họ đã tìm sang tận Đông Anh, nơi bố tôi làm việc từ
gần 50 năm trước. Nhưng ở đó, người duy nhất làm việc cùng
thời với bố tôi cũng đã nghỉ hưu từ năm 2000. Bệnh viện
Đông Anh cử người về tận quê ông để hỏi địa chỉ gia đình tôi.
Ông lại chỉ sang Trường đại học Dược Hà Nội, nơi mẹ tôi
công tác trước khi về nghỉ hưu từ 20 năm trước. Cứ như thế,
bao trái tim nhân hậu đã chuyển tiếp cho nhau tín hiệu để cuối
cùng giúp Ted tìm được gia đình tôi và trao lại chiếc đĩa CD
chứa đựng tâm huyết của người viết nhật ký 35 năm về trước.
Những ngày sau đó tôi nhận được rất nhiều thư của hai anh
em Frederic Whitehurst và Robert Whitehurst. Họ kể về
những năm tháng ở VN và hành trình bao năm qua họ đã tìm
kiếm gia đình tôi như thế nào. Có những lúc họ tưởng như
tuyệt vọng không thể nào tìm được gia đình tôi, đã sợ rằng khi
họ chết đi, hai cuốn nhật ký của chị tôi sẽ nằm trong đống giấy
má bình thường không ai biết đến, bị quẳng đi, bị mục nát, bị
quên lãng. Họ nói với tôi rằng vì không còn hi vọng tìm được
gia đình tôi, họ đã có ý định in hai cuốn nhật ký thành sách để
cả thế giới được biết về một nữ bác sĩ cộng sản người Hà Nội
đã sống và đã chết ra sao. Họ mong rằng từ cuốn sách đó sự
nghiệp y tế của chị tôi sẽ còn được tiếp nối… Và trong nỗi
tuyệt vọng như thế, họ đã trao tặng hai cuốn nhật ký cho Viện
lưu trữ về VN Lubbock tại Trường đại học Tổng hợp Texas, để
chúng có thể được gìn giữ và chăm chút hơn khả năng họ có
thể làm được.
Dưới đây là bức thư đầu tiên của Fred gửi cho tôi:
“Thứ sáu 29-4-2005
Tôi là Frederic Whitehurst. Tôi đã giữ ký ức về chị cô, bác
sĩ Đặng Thùy Trâm, 35 năm nay. Tôi đã giữ cuốn nhật ký của
chị ấy suốt 35 năm. Ted Engelmann - người tôi chỉ mới vừa
biết - nói với tôi rằng anh ấy đã đến nhà cô và hiện nay cô đã
nhận được bản copy của hai cuốn nhật ký cùng những bức
ảnh. Có bao nhiêu điều tôi phải nói với cô, với gia đình cô và
đặc biệt là với mẹ cô. Sau bao nhiêu năm tìm kiếm, điều này
giống như một giấc mơ và việc tìm ra gia đình cô khiến tôi bật
khóc. Một người mẹ phải được biết về những ngày tháng của
con gái mình, một đất nước phải được biết về một người anh
hùng như bác sĩ Đặng. Mọi việc dường như thật thích hợp, mẹ
cô cần phải nhận được những dòng chữ của con gái mình
đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng đất nước bà - 30-42005…”.
Frederic Whitehurst - thường gọi là Fred là một sĩ quan
quân báo Mỹ tham chiến ở chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi
từ năm 1969-1971. Trong chiến tranh, nhiệm vụ của Fred là
thu thập các thông tin, tài liệu có giá trị quân sự để phân tích
tình hình, truy tìm dấu tích quân giải phóng, định hướng tập
kích hay càn quét. Nhiệm vụ đó khiến Fred có thể nhìn cận
cảnh cuộc chiến tranh và chứng kiến tận mắt những mất mát
khủng khiếp - cả đối với phía VN lẫn phía Mỹ. Fred đã chứng
kiến cảnh “cả một xóm nhỏ Nhơn Phước ở miền tây Đức Phổ
bị bom giội tan hoang không còn một người sống” (thư ngày
4-6-2005). Fred đã nhìn thấy những em nhỏ ở Chu Lai bị thiêu
cháy trong bom napalm. Fred đã chứng kiến viên trung úy chỉ
huy trực tiếp của mình gần như mất trí vì không chịu nổi cảnh
các nhân viên y tế Mỹ “đơn giản cứ nhặt bừa bất kỳ một cánh
tay, cẳng chân nào đó lắp vào xác bạn mình cho vào quan tài
gửi về Mỹ” (thư ngày 4-6-2005). Những cảnh chứng kiến đó
đã ám ảnh Fred trong bao năm nay từ khi rời VN trở về.
Nhưng cũng từ những ngày khốc liệt đó, Fred đã nhìn thấy
cuộc chiến tranh từ một ánh sáng hoàn toàn khác biệt.
Trong một trận tập kích vào một “căn cứ của Việt cộng”,
sau khi tiếng súng đã im, đơn vị của Fred tiến vào và nhận
thấy đây là một bệnh viện nhỏ. Có rất nhiều lán trại, nhiều
phòng - rõ ràng là phòng bệnh, cả một phòng mổ dã chiến. Có
vẻ mọi người trong bệnh viện đã vội vã đi khỏi ngay trước khi
quân Mỹ ập tới và không kịp mang theo tài liệu.
Theo qui định của quân đội Mỹ, mọi tài liệu của địch thu
được trên chiến trường phải chuyển lại cho bộ phận quân báo
nghiên cứu. Hôm đó Fred thu nhặt được rất nhiều tài liệu.
Cùng với thông dịch viên người Việt, Fred chọn lọc các tài
liệu có giá trị quân sự, số còn lại họ vứt vào đống lửa để thiêu
hủy.
Fred đang đốt những tài liệu loại bỏ thì thượng sĩ Nguyễn
Trung Hiếu - thông dịch viên của đơn vị - cầm một cuốn sổ
nhỏ đến cạnh anh và nói: “Fred, đừng đốt cuốn sổ này. Bản
thân trong nó đã có lửa rồi”. Fred chưa hiểu đó là cuốn sổ gì,
nhưng vẻ xúc động của Hiếu và việc Hiếu có thể kính trọng cả
đối phương tác động rất mạnh đến anh, Fred bỏ cuốn sổ vào
túi.
Nhiều đêm sau đó Fred và Hiếu cùng nhau đọc cuốn sổ.
Đó là nhật ký của một Việt cộng, chính là nữ bác sĩ đứng đầu
cái bệnh viện nhỏ mà đơn vị Fred càn vào. Nét chữ nghiêng
nghiêng đầy nữ tính. Anh càng tò mò hơn khi Hiếu cho biết nữ
bác sĩ đó còn rất trẻ, mới 26 tuổi và từ Hà Nội vào Đức Phổ
công tác chưa được hai năm.
Rồi như một định mệnh, mấy tháng sau Fred nhận được
cuốn nhật ký thứ hai của nữ bác sĩ, cũng do Nguyễn Trung
Hiếu đem về. Những dòng chữ rực lửa khiến Fred vô cùng xúc
động - mặc dù anh chỉ được nghe qua lời dịch vội của Nguyễn
Trung Hiếu và đó là những dòng chất chứa căm thù đối với
quân Mỹ. Những dòng đầy yêu thương, hi vọng khiến anh vô
cùng ngạc nhiên. Anh không hiểu nổi bắt nguồn từ đâu mà
một người con gái có thể nhìn thấy cái đẹp của màu xanh giữa
chiến trường mịt mù bom đạn, vì sao cô ấy có thể nghe nổi
bản giao hưởng êm đềm khi quân Mỹ gần như luôn bám sát
sau lưng.
Năm 1972, Fred được rời VN và trở về Mỹ. Trong hành lý
của anh có những kỷ vật nặng trĩu của chiến tranh: hai cuốn
nhật ký của nữ bác sĩ, hơn 50 tấm ảnh chụp những người dân
Quảng Ngãi trong chiếc máy ảnh Canon bị bắn thủng lấy được
trên xác một phóng viên Việt cộng, chiếc đục nhỏ rơi bên xác
một người thợ mộc già bị giết hại. Cũng từ đó VN trở thành
một nỗi ám ảnh trong anh.
Năm tháng trôi qua, với những ám ảnh về chiến tranh, về
tội ác đã được chứng kiến ở Việt Nam đè nặng trong tim, Fred
đã nhiều lần quay lưng lại với cái xấu, không chấp nhận cái
xấu – dù chỉ là gián tiếp. Anh đã tìm được nhiều điều tốt đẹp,
đã từng kiện cả Cục điều tra Liên bang Mỹ (FBI), cả giám đốc
FBI, cả chính phủ Mỹ vì những việc làm sai trái và đã thắng
tất cả những thế lực đó trong một vụ kiện nổi tiếng cả trong
nước Mỹ lẫn trên thế giới. Một lúc khác tôi sẽ nói thêm nhiều
về anh.
Mẹ của Fred là một nhà giáo và là họa sĩ. Khi Fred cho mẹ
xem cuốn nhật ký, bà đã bảo con trai hãy cẩn thận, bởi vì hai
cuốn sổ này có thể thiêu cháy cuộc đời anh.
Quả vậy, trái tim Fred luôn bị nung ngấu vì ngọn lửa toả ra
từ hai cuốn sổ nhỏ ố vàng. Anh không thể nào ngủ yên mà cứ
trăn trở muốn làm một cái gì vì người nữ bác sĩ ấy. Chị còn
sống hay đã chết? Nếu đã chết có phải chị chết một cách tuyệt
vời đúng như đã sống cuộc đời tuyệt vời mà anh đọc được qua
nhật ký? Gia đình nữ bác sĩ ở đâu? Mẹ chị có biết rằng bà có
một người con gái anh hùng đến thế nào không?
Fred đã nhiều lần thử tìm đến gia đình nữa bác sĩ. Qua
những trang nhật ký, anh biết chị tốt nghiệp trường Đại học Y
khoa Hà Nội, nên lục tìm khắp nơi mọi thông tin chi tiết về
trường đó mong có manh mối gì chăng. Anh bắt gặp tên tuổi
hai giáo sư nổi tiếng là Giáo sư Đặng Văn Chung và Giáo sư
Đặng Văn Ngữ. Anh biết tên chị là Đặng Thuỳ Trâm - biết đâu
họ đều là người trong dòng họ Đặng? Anh biết mẹ chị tên là
Doãn Ngọc Trâm, nhưng địa chỉ của bà chỉ là một dãy số bí ẩn
ghi ở cuối cuốn nhật ký. Anh biết bố chị là bác sĩ Đặng Ngọc
Khuê, giám đốc một bệnh viện cách Hà Nội không xa. Anh
đoán đó là bệnh viện tư của gia đình chị - rõ ràng chị xuất thân
từ một gia đình trí thức. Anh biết nhà chị ở một phố nhỏ tên là
Lò Đúc. Nhưng anh cũng biết trong chiến tranh Hà Nội đã bị
ném bom. Biết đâu gia đình chị cũng đã chết hết trong một
trận bom nào đó? Anh đã hỏi nhiều người, nhưng những năm
sau chiến tranh tìm một người nào đó ở Việt Nam là điều hầu
như không thể đối với anh. Mãi cách đây mấy năm mới có một
người bạn liên hệ được với họ hàng ở Hà Nội và nói với anh
rằng gia đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê vẫn còn sống. Nhưng
không hiểu sao người đó không muốn tìm tiếp và bảo anh
đừng nói thêm với cô về cuốn nhật ký nữa.
***
Robert Whitehurst cũng là một cựu chiến binh ở chiến
trường VN nhưng chưa từng có mặt ở chiến trường Nam
Trung bộ. Hai năm hoạt động ở vùng đồng bằng sông Cửu
Long khiến Rob đem lòng yêu mến miền đất này cùng những
con người VN hiền hòa, giàu tình cảm. VN đã trở thành một
phần đời của Rob vì anh cưới một người con gái xứ Long
Xuyên. Anh học tiếng Việt, thích ăn món ăn Việt, thích đem
những cây cỏ VN về Mỹ để trồng, thậm chí có lần còn cố gửi
về Mỹ một chiếc xuồng ba lá để vợ đỡ nhớ quê.
Rob được đọc cuốn nhật ký của bác sĩ Thùy Trâm sau khi
từ Mỹ trở về năm 1972. Ngay từ đầu cuốn nhật ký đã khiến
anh sửng sốt. Cùng với sự giúp đỡ của vợ, anh đọc đi đọc lại
cuốn nhật ký, càng đọc anh càng bị lay động trước những gì
diễn ra trong tâm hồn người con gái ở bên kia chiến tuyến.
Anh viết cho mẹ tôi: “Tất cả những ai từng được chúng tôi
cho xem cuốn nhật ký đều xúc động trước những điều chị cô
viết. Chúng tôi nghĩ chị không chỉ là một anh hùng của riêng
ai, nghĩa là mặc dù những ký ức của chị rất quí giá đối với cô
cũng như đối với chúng tôi, nhưng sự nghiệp của chị còn rất
có ý nghĩa với tất cả mọi người. Những dòng chữ của chị có
một sức kêu gọi tuyệt vời.Mặc dù chị ở bên kia chiến tuyến
trong cuộc chiến tranh giữa chúng ta, nhưng ngay từ đầu
những năm 1970, Fred và tôi đã cảm thấy chị vô cùng đáng
ngưỡng mộ, đáng tôn kính và là một người tốt. Hi vọng sau khi
đọc những dòng chữ viết từ quá khứ ấy, cô sẽ đồng ý với
chúng tôi… rằng theo một nghĩa nào đó chị là của riêng gia
đình cô, nhưng theo một nghĩa rất quan trọng chị là của tất cả
chúng ta” (thư ngày 29-4-2005).
Rồi Rob tìm được trên mạng Internet một nơi gọi là Trung
tâm VN (Vietnam Center) ở Trường đại học Tổng hợp Texas
và biết rằng tại đây người ta vẫn tổ chức hội thảo thường niên
về chiến tranh VN. Có rất nhiều người tới dự hội thảo này: các
học giả, các vị đại sứ, các viên tướng, các cựu chiến binh VN
của cả hai phía miền Nam và miền Bắc. Robert động viên Fred
đến dự hội thảo và nói về cuốn nhật ký của nữ bác sĩ. Cuộc hội
thảo diễn ra như tôi đã nói lúc đầu. Trong sự xúc động sâu sắc,
Fred và Rob đưa cho nhiều người đĩa CD chứa bản sao cuốn
nhật ký của chị tôi, mong rằng giống như trong câu chuyện cổ
tích tốt đẹp nọ, cuốn nhật ký sẽ tìm được về với quê hương, về
với gia đình người nữ bác sĩ mà họ ngưỡng mộ như một anh
hùng.
ĐẶNG KIM TRÂM
NHỮNG NGÀY RỰC LỬA
QUYỂN MỘT
1968
8.4.68
Một cas ruột thừa trong điều kiện thiếu thốn. Thuốc giảm
đau chỉ có vài ống Novocaine nhưng người thương binh trẻ
không hề kêu la một tiếng. Anh còn cười động viên mình nhìn nụ cười gượng trên đôi môi khô vì mệt nhọc, mình
thương anh vô cùng. Rất đau xót rằng sự nhiễm trùng trong ổ
bụng không do ruột thừa vỡ. Tìm kiếm gần một giờ không
thấy nguyên nhân, mình đành đóng lại, cho đặt dẫn lưu và đổ
kháng sinh trong ổ bụng. Nỗi băn khoăn của một người thầy
thuốc + nỗi thương xót mến phục người thương binh ấy làm
mình không thề yên bụng. Vuốt nhẹ mái tóc anh, mình muốn
nói với anh rằng: với những người như anh mà tôi không cứu
chữa được thì đó là điều đau xót khó mà phai đi trong cuộc đời
phục vụ của một người thầy thuốc.
10 4.58
Vậy là chiều nay các anh lên đường để lại cho mọi người
một nỗi nhớ mênh mông giữa khu rừng vắng vẻ. Các anh đi
rồi nhưng tất cả nơi đây còn ghi lại bóng dáng các anh: những
con đường đi, những chiếc ghế ngồi chơi xinh đẹp, những câu
thơ thắm thiết yêu thương. Nghe anh Tuấn ra lệnh: “Tất cả ba
lô lên đường!”. Những chiếc ba lô vụng về may bằng những
tấm bao Mỹ đã gọn gàng trên vai, mọi người còn nấn ná đứng
lại trước mình bắt tay chào mình một lần cuối. Bỗng dưng một
nỗi nhớ thương kỳ lạ đối với miền Bắc trào lên trong mình như
mặt sông những ngày mưa lũ và… mình khóc ròng đến nỗi
không thể đáp lại lời chào của mọi người. Thôi! Các anh đi đi,
hẹn một ngày gặp lại lại trên miền Bắc thân yêu…
Suốt một đêm một ngày lo lắng vì cas mổ của San, chiều
nay lòng mình vui sướng xiết bao khi thấy San ngồi dậy, nét
mặt anh còn in nỗi đau đớn mệt nhọc nhưng nụ cười ngượng
nở trên môi. Bàn tay anh khẽ nắm bàn tay mình mến thương
tin tưởng ơi người thương binh trẻ tuổi dũng cảm kia ơi, tôi
thương anh bằng một tình thương rộng rấl nhưng rất sâu xa:
tình thương cửa một người thầy thuốc trước bệnh nhân, tình
thương của một người chị đối với đứa em đau ốm (thực ra San
bằng tuổi mình) và tình thương ấy đặc biệt hơn đối với mọi
người vì cộng thêm că lòng mến phục. Anh có thấy điều đó
trong cái nhìn lo âu của tôi không? Có thấy bàn tay tôi dịu
dàng đặt nhẹ trên vết thương, trên đôi tay xanh gay của anh đó
không Chúc San mau bình phục để trở về với đội ngũ chiến
đấu, trở về với bà mẹ già đang vò vo ngóng trông con từng
giờ, từng phút.
12.4.68
Rừng chiều sau một cơn mưa, những lá cây xanh trong
trước ánh nắng, mỏng mảnh xanh gầy như bàn tay một cô gái
cấm cung.
Không khí trầm lặng và buồn lạ lùng. Cả khu nhà bệnh
nhân im lặng, bên khu nhân viên cũng chỉ nghe thấy tiếng
Hường rì rầm trò chuyện với ai. Một nỗi nhớ mênh mang bao
trùm quanh mình. Nhớ ai? Nhớ ba, nhớ má, nhớ những người
vừa ra đi… và nhớ cả một người bệnh nhân đang chờ mình
đến với anh nữa. Bên trong nỗi nhớ hình như có một nỗi buồn
sâu kín, thầm lặng nhưng rất nặng nề. Dù sao vết thương lòng
vẫn đang rỉ máu, dù mình có muốn lấy công việc lấy mọi nỗi
nhớ khác đè lên trên, nó vẫn trỗi dậy, xót xa vô cùng. Hãy
quên đi Th. ơi! Hãy quên đi mà tìm lại niềm hy vọng mới mẻ
xanh tốt trong lành hơn. Hãy lấy niềm tự hào mà quên đi thất
vọng. Con người ấy đâu có xứng đáng với tình yêu trong
trắng, chung thuỷ của Thuỳ.
Ơi những người thân yêu của tôi trên quê hương Đức Phổ
này, có ai hiểu và cảm thông hết nỗi lòng tôi chăng? Nỗi lòng
một cô gái đay ước mơ hy vọng mà không đượ...
 





