NHẠC TẾT 2026
Hồ Chí Minh về chống tham nhũng quan liêu tiêu cực

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:31' 30-10-2024
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:31' 30-10-2024
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
TRẦN THANH LÂM
Phó Chủ tịch Hội đồng
Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM MINH TUẤN
Thành viên
NGUYỄN HOÀI ANH
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TỐNG VĂN THANH
4
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Quan liêu, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực
là kẻ thù nguy hiểm, là trở lực lớn đối với sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước, không chỉ làm mất đi
sự trong sạch của bộ máy Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng
đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức và vai trò nêu
gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên
chức mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối
với Đảng, Nhà nước và chế độ. Công cuộc đấu tranh
phòng, chống quan liêu, tham nhũng và đấu tranh
phòng, chống các biểu hiện tiêu cực của cán bộ, đảng
viên là hai nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây
dựng và chỉnh đốn Đảng, được Đảng và Nhà nước đặc
biệt quan tâm.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác phòng,
chống quan liêu, tham nhũng và những biểu hiện
tiêu cực, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
xuất bản cuốn sách Hồ Chí Minh về chống
quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Nội dung
cuốn sách gồm những đoạn trích từ các bài viết,
bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được in trong
5
bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (Xuất bản năm 2021),
thể hiện tư tưởng của Người về công tác phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực.
Bố cục cuốn sách gồm ba phần:
Phần I: Nhận diện quan liêu, tham nhũng, tiêu cực;
Phần II: Nguyên nhân, tác hại của quan liêu,
tham nhũng, tiêu cực.
Phần III: Quan điểm, cách xử lý, giải pháp phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực.
Cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá trị cho cán
bộ, đảng viên và những người quan tâm đến công tác
phòng, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong
giai đoạn hiện nay.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 11 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
Phần I
NHẬN DIỆN QUAN LIÊU,
THAM NHŨNG, TIÊU CỰC
I- GIAI ĐOẠN TRƯỚC NGÀY 2/9/1945
1. Còn như Chính phủ thuộc địa Pháp thì vẫn
ngoan cố một cách ngây thơ cho rằng ở Đông
Dương này muốn ràng buộc những người bản xứ
thì chỉ cần vỗ về họ mãi mãi bằng những bài diễn
văn long trọng, những luận điệu tuyên truyền
gian ngoan và bằng những lời thề nguyện trung
thành mà nó chỉ đáng giá ở chỗ người ta đặt vào
đấy: trong cái xứ này do thiếu sót hay nói cho
đúng hơn, là do ý định của Chính phủ, nên đâu
đâu từ trên xuống dưới cũng đều có cái nạn tham
nhũng mua quan bán chức, những bọn người mua
bán được bằng tiền thì không phải là những thứ
hàng hóa hiếm.
“Đông Dương và Triều Tiên”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2021, t.1, tr.19.
7
2. Vụ bê bối thứ hai là vụ Têa. Đây là điều bạn
đồng nghiệp của chúng tôi ở Đông Dương kể lại:
“ … Tất cả những kẻ có quyền hành như vậy
cũng đều sẽ lợi dụng để vơ vét của cải cho bản
thân mình và bằng cách đó sẽ mang lại tổn thất
lớn cho xã hội”.
“Từ vụ bê bối này đến vụ bê bối khác”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.173-174.
3. Ông Đáclơ nguyên bán cháo, trước là quan cai
trị tỉnh, bị lên án là ăn hối lộ, là cường hào và đã
gây ra cuộc nổi dậy đẫm máu ở Thái Nguyên, đã
được Chính phủ thuộc địa cử vào Hội đồng thành
phố Sài Gòn.
Ông Têa, kỹ sư và giám đốc một hãng buôn
lớn, bị tố cáo là có tội nhũng lạm mà không bị rầy
rà gì.
Giờ đến lượt Buđinô, viên quan cai trị này bị
kiện: đã đút túi số tiền lời một cuộc chợ phiên tổ
chức nhân dịp khánh thành tượng đài tử sĩ; đã đòi
và nhận một món tiền “bồi thường” lớn trả cho sự
có mặt của mình trong buổi chôn cất một mụ nhà
giàu bản xứ, đã đòi những món tiền lớn chè lá khi
cấp một giấy phép hay giấy lệnh nào đó.
“Diễn đàn Đông Dương”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.204.
8
4. Họ phải bỏ ra mấy chục ngàn đồng để chuộc
lại cái mà họ đã phải “nhượng không”. Lần thứ
hai này, vị quan cai trị đút túi thêm mấy tờ bạc
lớn nữa.
Bị kiện vì tội buôn bán người chết, bóc lột
người sống, tham ô lộ liễu, quan cai trị Buđinô
vừa được công lý Pháp cho trắng án. Ngày mai có
thể ông ta còn được huân chương.
Bao giờ người ta cũng vì uy tín chủng tộc, mà
xá tội cho lũ “vô lại khả ố”. Bao giờ người ta
cũng nhân danh nhân dân Pháp mà bắt công lý
làm đĩ bợm.
“Diễn đàn Đông Dương”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.205.
5. Đó là vì họ bị ăn cắp khắp mọi phía, bằng
mọi cách, do các quan cai trị, do bọn phong kiến
tân thời và nhà thờ. Xưa kia, dưới chế độ An Nam,
ruộng đất chia thành nhiều hạng tùy theo tốt xấu.
Thuế đánh theo sự phân hạng ấy. Dưới chế độ
thuộc địa hiện nay, tất cả những cái đó đều thay
đổi. Khi cần kiếm tiền các quan cai trị người Pháp
chỉ việc bắt thay đổi hạng ruộng. Chỉ một nét bút
thần kỳ là họ biến một đám ruộng xấu thành
ruộng tốt. Thế là người dân cày An Nam buộc phải
nộp thuế cho đám ruộng của mình nhiều hơn số
họ thu hoạch được.
9
Như thế vẫn chưa hết. Người ta còn tăng diện
tích ruộng đất một cách giả tạo bằng cách rút
ngắn đơn vị đo đạc. Bằng cách đó, thuế lập tức
tăng lên, nơi thì một phần ba, nơi thì hai phần ba.
Điều đó chưa đủ để thỏa mãn lòng tham không
đáy của Nhà nước bảo hộ cứ mỗi năm lại tăng mãi
thuế lên.
“Tình cảnh nông dân An Nam”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.244.
6. Những đồn điền ấy phần nhiều được lập ra
bằng lối ăn cắp hợp pháp hóa. Trong thời kỳ xâm
lược, người dân cày An Nam, cũng như người
Andátxơ năm 1870, đã bỏ ruộng đất của mình
lánh sang những vùng còn tự do. Khi họ trở về thì
ruộng đất của họ đã “thành đồn điền” mất rồi.
Hàng bao nhiêu làng đã bị tước đoạt đi như thế,
và người bản xứ lâm vào cảnh phải lao động cho
bọn chúa phong kiến tân thời, bọn này chiếm đoạt
có khi đến 90% thu hoạch.
“Tình cảnh nông dân An Nam”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.245.
7. Bên cạnh cái thế lực phần đời ấy còn có
những đấng cứu thế phần hồn nữa, các đấng này
trong khi truyền bá đức nghèo cho người An Nam,
cũng không quên tìm cách làm giàu bằng mồ hôi
và máu của người bản xứ. Ở Nam Kỳ, chỉ riêng
10
Hội Thánh truyền giáo cũng đã chiếm 1/5 ruộng đất
trong vùng. Mặc dầu trong kinh Thánh không có
dạy, song thủ đoạn chiếm đoạt những đất đai này
cũng thật rất giản đơn: đó là thủ đoạn cho vay nặng
lãi và hối lộ. Hội Thánh lợi dụng lúc mất mùa để cho
nông dân vay tiền và buộc họ phải cầm cố ruộng đất.
Vì lợi suất tính theo lối cắt cổ, nên người An Nam
không thể trả nợ đúng hạn; thế là tất cả ruộng đất
cầm cố bị rơi vào tay Hội truyền giáo.
“Tình cảnh nông dân An Nam”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.246.
8. Lụt lội, bão táp, nạn đói, nội chiến đều gây ra
cảnh cùng khổ cho nông dân.
Bọn quan liêu tham nhũng của chế độ quan
lại cũng chịu phần trách nhiệm gây ra cảnh đói
khổ ấy.
“Tình cảnh nông dân Trung Quốc”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.252.
9. Một tai họa khác nữa là chủ nghĩa quân phiệt.
Tất cả bọn tướng tá lớn nhỏ, kiểu Napôlêông, đều làm
giàu cho bản thân họ, làm giàu cho bè đảng và cho
bọn tay chân của họ, bằng mồ hôi nước mắt của nông
dân là những người hằng năm phải đóng vào khoảng
225.000.000 đôla.
“Tình cảnh nông dân Trung Quốc”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.252.
11
10. Quan lớn cai trị cứ việc dựa theo dân số và
thuế bạ của tỉnh mà quy định số tiền cần thiết cho
cuộc lễ, nhân số tiền đó lên gấp 3, gấp 4 hay gấp 5,
định ngày nộp, rồi đòi các kỳ hào hương lý đến và
nói với họ: “Quan lớn cần tiền, đây là số tiền quan
lớn muốn có, đây là kỳ hạn quan lớn định cho các
người để nộp cho quan lớn. Hãy liệu lấy đấy. Nếu
không thì...”. Để khỏi ngồi tù, các kỳ hào hương lý
cứ việc mà “liệu”. Số tiền bị nhân lên của cuộc lạc
quyên ép buộc thì dùng để “tỏ lòng tôn kính các
bậc đại nhân”, còn số thành của bài tính nhân thì
chui vào túi của quan lớn cai trị.
“Những cái tốt đẹp của nền văn minh Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.292.
11. Trong lúc người bản xứ bị tù đày vì
những duyên cớ vu vơ, thì bọn thực dân và bọn
quan cai trị phạm tội giết người, hối lộ, mua bán
chức tước, ăn cắp, vẫn nhẹ bước thang mây. Tôi
không nói đến ngài Đáclơ, Ủy viên Hội đồng
quốc gia tư vấn Nam Kỳ, hay ngài Bôđoanh,
Toàn quyền Đông Dương; chuyện của các vị ấy
đã qua ba năm nay rồi. Tôi muốn nói đến hai
viên chức ở Angiêri hồi tháng 4 vừa rồi, đã bị tố
cáo công khai về tội dùng giấy tờ giả mạo, về tội
thụt tiền công quỹ cùng các tội nặng khác,
nhưng lại được tha bổng. Tôi cũng muốn nói đến
12
mấy vị ủy viên Hội đồng tư vấn người Âu cũng ở
xứ thuộc địa đó, phạm tội giết người hay quả
tang đồng lõa giết một dân bản xứ, mà vẫn
không bị người ta đụng gì đến.
“Những cái tốt đẹp của nền văn minh Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.292-293.
12. Họ tìm mọi cách để lẩn tránh: người giàu
có thì đút lót còn người nghèo khó thì trốn
tránh. Có thấy những kẻ khốn cùng không có
tiền để đút lót và cũng không biết trốn đi đâu
được, bị cưỡng bách dồn về trại lính buồn bã như
những con vật mà người ta đem tới lò mổ; có
thấy những người cha mẹ, chị em, những người
vợ sắp cưới vừa khóc lóc vừa kêu van thảm thiết
đi theo những người lính mộ về “cái đại gia đình” ấy
như là đi theo những tội phạm bị đem lên máy
chém, mới hiểu được cái vinh dự to lớn của người
dân An Nam đi làm cái nghĩa vụ quân sự cay
nghiệt kia. Cho nên họ tìm mọi cơ hội để tự cứu
lấy mình.
“Những tội ác của chủ nghĩa quân phiệt”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.369.
13. Tôi đã nói chuyện về các ông nghị thanh
liêm. Bây giờ, tôi phải nói đến các quan cai trị có
đạo đức. Như các bạn biết đấy, để bảo vệ cho một
chế độ cướp bóc, phải có quân ăn cướp. Họa hoằn
13
có một viên quan cai trị nào lại thật thà và hiểu
biết hơn, lập tức viên ấy bị đàn lang sói quan thầy
hay bè bạn xua đuổi đi ngay. Thành thử ra 99%
quan cai trị là quân trộm cắp, chỉ nghĩ đến bóc lột
dân bản xứ để làm giàu, chẳng kiêng nể gì tài sản,
quyền lợi, tự do, đời sống của những người bị cai
trị cả.
“Các quan cai trị”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.391.
14. Một viên quan cai trị ở Bắc Kỳ đã tước
đoạt của một làng mấy hécta trồng mía để cho
một làng Công giáo. Rồi lão ta lại bắt bỏ tù
những kẻ bị tước đoạt khổ sở vì những người này
dám đi kiện.
“Các quan cai trị”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.391.
15. Thế mà chính ông ta, viên công sứ, đã bày
ra một âm mưu tưởng tượng, cho tiền kẻ tố cáo,
rồi hành hạ tra tấn bắt những người bị cáo phải
nhận những lời thú tội giả mạo. Việc hèn mạt ấy,
chính viên công sứ cũng đã thừa nhận. Nhưng ông
ta chẳng phải lo lắng gì về việc ấy cả; và ông cứ
tiếp tục những việc gian ác của mình.
“Các quan cai trị”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.391.
14
16. Một viên khâm sứ, can tội ăn hối lộ, hành
hung, biển thủ, làm và sử dụng giấy tờ giả mạo,
lại được tặng đệ tam đẳng Bắc đẩu bội tinh và
thăng lên chức quyền Toàn quyền.
“Các quan cai trị”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.392.
17. Một viên công sứ khác nắm trong tay cả
quyền hành của tổng đốc, thẩm phán, mõ tòa và
đội trưởng thúc thuế. Ông ta lợi dụng quyền hành
của mình chẳng một ai giám sát để bắt bớ, bỏ tù
hay kết án một cách võ đoán người An Nam đặng
bóp nặn họ.
“Các quan cai trị”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.392.
18. Một người Pháp khác, cũng kêu lên như thế
này: “Ở Đông Dương cũng đúng như vậy đấy, ở đây
“công lý” nằm trong tay những tên quan lại thiếu
trách nhiệm, hoặc khi chúng ta phải thực hành
công lý, thì bằng súng!”. Một người Pháp khác
viết: “Nếu viên chủ sự viện kiểm sát xét kỹ theo
đúng tinh thần pháp lý thì trong số hai nghìn
đến hai nghìn rưỡi biên bản lập hằng năm ở Bắc
Kỳ, không có biên bản nào là có giá trị đối với
Pari cả”.
“Công lý”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.445.
15
19. Quan cai trị Bôđoanh - bị một viên chức
Pháp tố cáo làm giả mạo giấy tờ - được phong
chức quyền Toàn quyền và được thưởng Bắc đẩu
bội tinh.
Quan cai trị Đáclơ - bị tố cáo ăn hối lộ; vì sự
nhũng lạm tàn bạo của ông ta mà xảy ra cuộc khởi
nghĩa ở một tỉnh làm cho nhiều người Pháp và An
Nam chết - lại được cử làm Ủy viên Hội đồng
thành phố.
Quan cai trị Buđinô - can tội tham ô, thụt tiền
công quỹ và nhũng lạm - lại được tha bổng.
Kỹ sư Têa - giám đốc một hãng lớn, bị tố cáo
tham ô - cũng được vô sự.
Một tên quan cai trị ở Quảng Châu Loan1 bị tố
cáo là đã dùng nhục hình giết chết hơn hai mươi
người bản xứ, lại được tha bổng.
Một tên quản ngục Côn Lôn, bị tố cáo là đã
giết một cách thản nhiên một lúc hơn 40 phạm
nhân, được trắng án và khen thưởng.
“Công lý”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.445-446.
20. Hết hành vi điên rồ này đến hành vi điên
rồ khác đã phung phí đồng tiền mà người dân An
Nam khốn khổ đã phải đổ mồ hôi nước mắt mới
__________
1. Thời kỳ này, Quảng Châu Loan là một xứ của Đông
Dương thuộc Pháp (B.T).
16
kiếm được. Chúng tôi chưa biết đích xác số tiền
chi tiêu cho vua An Nam sang ngao du bên Pháp,
chỉ biết rằng, để đợi ngày lành cho con rồng tre1
xuống tàu, người ta đã phải bồi thường cho tàu
Poóctốtxơ trong bốn ngày chờ đợi, mỗi ngày
100.000 phrăng (tức là 400.000 phrăng tất cả).
Tiền tàu hết 400.000 phrăng. Tiền chiêu đãi hết
240.000 phrăng (chưa kể tiền lương trả cho bọn
mật vụ để theo dõi người An Nam ở Pháp),
77.600 phrăng trả tiền ăn ở tại Mácxây cho lính
khố xanh dùng để “bồng súng chào” cụ lớn và
hoàng thượng.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.75.
21. Trước hết, ngoài bọn có thế lực ở chính
quốc ra, người ta còn cho mời ba chục viên chức
cao cấp ở các thuộc địa về; bọn này phè phỡn ở
__________
1. Con rồng tre: Ám chỉ vua Khải Định, xuất phát từ sự
việc sau đây: Năm 1922, Khải Định sang Pháp dự Hội chợ
triển lãm thuộc địa tại Mácxây, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã
viết vở kịch Con rồng tre để vạch trần bộ mặt bán nước
hại dân của Khải Định. Đại ý: có những cây tre thân hình
cong queo, những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành
con rồng. Nó là một đồ chơi, một khúc tre nhưng lại được
mang tên và có hình dáng con rồng. Thực ra nó chỉ là một
vật vô dụng (B.T).
17
đường phố Cannơbie1 mà vẫn được lĩnh phụ cấp cả
ở triển lãm lẫn ở thuộc địa. Riêng Đông Dương
phải bỏ ra 12 triệu cho cuộc triển lãm này. Và các
bạn có biết người ta đã chi tiêu số tiền đó như thế
nào không? Một ví dụ: việc dựng lại cái mô hình
nổi tiếng của các cung điện Ăngco đã tốn 3.000
mét khối gỗ, giá 400 hoặc 500 phrăng một mét
khối. Tức là: từ 1 triệu 200 nghìn đến 1 triệu 500
nghìn phrăng!
Còn nhiều ví dụ khác về sự phung phí nữa.
Trong việc đi lại của quan toàn quyền, xe hơi và
xe luých vẫn chưa đủ, còn phải có một toa xe lửa
đặc biệt nữa kia; việc sửa sang toa xe đó tốn cho
ngân khố 125.250 phrăng.
Trong vòng mười một tháng hoạt động, nha
kinh tế (?) đã làm hao phí công quỹ Đông Dương
một số tiền 464.000 phrăng.
Tại trường thuộc địa, nơi “chế tạo” ra những
nhà khai hóa tương lai, 44 giáo sư đủ các loại được
đài thọ để dạy từ 30 đến 35 học viên. Lại phải tốn
hàng nghìn phrăng nữa.
Công việc thanh tra thường xuyên các công
trình phòng thủ thuộc địa hằng năm tốn cho ngân
sách 785.168 phrăng. Thế nhưng các ngài thanh
tra thì không bao giờ rời khỏi Pari và đối với các
__________
1. La Cannebière: Tên một đường phố đông đúc ở
Mácxây (B.T).
18
thuộc địa thì các ngài cũng không hiểu biết gì hơn
là hiểu biết ông trăng già!
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.75-76.
22. Nếu chúng ta đến các thuộc địa khác, thì ở
đâu chúng ta cũng thấy một tình trạng tệ lậu như
vậy. Để đón tiếp một phái đoàn “kinh tế” không
chính thức, ngân khố Máctiních “nhẹ bổng đi” mất
400.000 phrăng. Trong vòng 10 năm, ngân sách
Marốc từ 17 triệu lên 290 triệu phrăng, mặc dầu
người ta đã giảm 30% các khoản chi tiêu cho lợi
ích địa phương, tức là những khoản chi tiêu có thể
có lợi cho nhân dân bản xứ!
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.76.
23. Một cựu nghị sĩ đi thăm thuộc địa về, đã
phải kêu lên: “So với bọn viên chức thuộc địa
thì những tên cướp đường còn là những người
lương thiện!”.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.77.
24. Có thể nói một số phiên họp của Hội đồng
quản hạt chỉ là để bàn việc cướp giật công quỹ
một cách có phương pháp. Riêng một ông chủ
19
tịch nào đó của Hội đồng đã được lãnh thầu
những công việc trị giá hai triệu phrăng rồi. Ông
đổng lý sự vụ nọ, đại diện của Chính phủ trong
Hội đồng, đã xin tăng lương mình lên gấp đôi và
đã được chấp thuận. Việc làm một con đường kéo
dài năm này qua năm khác chẳng ai kiểm tra
đem lại cho một vị thứ ba những món lợi thường
xuyên đều đặn. Chức vụ thầy thuốc của các viên
chức Đông Dương đem lại cho vị thứ tư một
khoản lương khá hậu. Vị thứ năm được bổ làm
thầy thuốc các công sở thành phố. Vị thứ sáu
nhận cung ứng giấy và in tài liệu cho Chính phủ.
Cứ thế, vân vân và vân vân.
Kho bạc có vơi đi chút ít thì đã có những quý
quan làm cho nó đầy lại một cách nhanh chóng.
Với quyền hành sẵn có, họ sức cho dân bản xứ
biết nhà nước cần một khoản tiền bao nhiêu đó,
rồi họ phân bổ cho các làng phải đóng góp. Và các
làng lo vội vàng tuân lệnh để khỏi bị trừng phạt
ngay lập tức.
Khi một viên khâm sứ cần thanh toán một
khoản tiền gì đó thì ngài phát hành các bằng sắc
để bán.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.77.
25. Một trong những quan khâm sứ của chúng
ta, vì tiêu hết trước hạn mấy tháng tất cả kinh phí
20
cho chiếc xàlúp đã bắt công quỹ hoàn lại cho ngài
các khoản chi phí về một cuộc lễ tiết nào đó không
ai biết rõ, nhưng nói rằng nhà vua đã được mời
ngự trên xàlúp.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.77-78.
26. Một cựu Toàn quyền Đông Dương, một hôm
đã thú nhận rằng thuộc địa này đầy rẫy những viên
chức ăn hại ngân sách mà thường chẳng được tích
sự gì cả.
Một người thực dân viết: quá nửa số viên chức
ấy, từ các quan đầu tỉnh đến các quan chức khác,
đều không đủ tư cách cần thiết của những con
người được giao phó những quyền hạn rộng rãi và
ghê gớm như thế.
Tất cả bọn chúng chỉ có mỗi cái tài là phung
phí công quỹ, còn người An Nam khốn khổ thì cứ
nai lưng đóng góp, đóng góp mãi. Họ đóng góp
không những để trả lương cho những viên chức
giữ những chức vụ vô dụng, mà còn để trả lương
cho cả những viên chức không có chức vụ gì cả!
Năm 19..., 250.000 phrăng đã tan biến đi như thế.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.78.
21
27. Các quan cai trị đều là những ông vua
con. Họ muốn xung quanh mình cái gì cũng xa
hoa tráng lệ, và nói rằng, có thế mới nâng cao
được uy tín của họ đối với người bản xứ. Một viên
Công sứ nọ đã lập cả một đội kỵ mã cận vệ và
không bao giờ hắn đi đâu mà không có đội ấy
theo hầu. Ở tất cả các tòa sứ đều có từ 6 đến 11
con ngựa và 5, 6 cỗ xe sang trọng đủ kiểu: độc
mã, song mã, tứ mã1, v.v.. Ngoài những phương
tiện đi lại đã quá thừa ấy, còn thêm những xe hơi
mỹ lệ, tốn cho công quỹ hàng vạn đồng. Một viên
quan cai trị nọ còn có cả một tàu ngựa đua.
Tiền nhà cửa, bàn ghế, điện nước của các vị đó
đều do công quỹ đài thọ cả. Ngoài ra, những người
đánh xe, lái xe, giữ ngựa, làm vườn, tóm lại, tất cả
những kẻ hầu người hạ của họ cũng đều do nhà
nước trả tiền công.
Thậm chí những cuộc giải trí về văn chương
của những người tốt số ấy cũng lại do nhà nước
trang trải. Một viên quan cai trị đã ghi vào ngân
sách 900 đồng tiền sưởi ấm, và 1.700 đồng mua
báo chí! Một vị khác đã dùng mánh lới kế toán để
biến tiền mua sắm áo khoác ngoài, đàn dương
cầm, đồ trang sức thành những khoản vật liệu
__________
1. Trong bản tiếng Pháp, tác giả kể đủ các kiểu xe
như: victorias, muylords, tilburys, malabars, v.v.. (B.T).
22
tu bổ tòa sứ, hoặc những khoản tương tự như thế
để bắt ngân sách nhà nước phải chịu.
Dù trước kia họ là những anh hàng cháo, hoặc
giám thị trong các nhà trường, nhưng khi đã đặt
chân đến thuộc địa là các nhà khai hóa ấy của
chúng ta sống một đời sống đế vương. Một viên
quan cai trị dùng năm sáu lính khố xanh để chăn
dê cho mình; một viên khác bắt lính có nghề điêu
khắc chạm trổ cho mình những tượng phật xinh
xắn hoặc đóng cho mình những rương hòm rất
đẹp bằng gỗ dạ hương.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.79-80.
28. Sau khi đã được cấp không ruộng đất, bọn
chủ đồn điền còn được cấp không hoặc gần như
không, cả nhân công nữa. Nhà nước cung cấp cho
chúng một số tù khổ sai làm không công, hoặc
dùng uy quyền để mộ nhân công cho chúng với
một đồng lương chết đói. Nếu dân phu đến không
đủ số hoặc tỏ ra bất mãn, thì người ta dùng vũ lực;
bọn chủ đồn điền tóm cổ hào lý, đánh đập, tra tấn
họ cho đến khi họ chịu ký giao kèo hẹn nộp đủ số
nhân công mà chúng đòi hỏi.
Bên cạnh uy lực phần đời ấy, còn có những
đấng cứu thế phần hồn nữa. Các đấng này, trong
khi thuyết giáo “đức nghèo” cho người An Nam,
23
cũng không quên làm giàu trên mồ hôi và máu
của họ.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.91.
29. Một tờ báo tiếng Việt dịch đăng đạo luật
nói về việc trừng trị những hành động hối lộ trong
bầu cử, bài ấy đã bị cắt. Trong lúc đó thì quan
Thống đốc trắng trợn cho đòi những người đứng
đầu các tập đoàn cử tri đến văn phòng và truyền
cho họ phải bỏ phiếu và cổ động bỏ phiếu cho danh
sách được ngài có cảm tình nhất.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.107.
30. Người ta còn thấy rõ sự thối nát của thực
dân Pháp qua thú nhận của tờ L'Impartial, cơ
quan ngôn luận của Pháp ở Đông Dương rằng viên
Thống đốc Cônhắc đã phạm một loạt hành động
tham nhũng. Cả người “đảng viên xã hội” Varen
cũng tham gia hăng hái vào việc tham nhũng vì
chỉ một vài tháng sau khi tới Đông Dương, ông ta
đã gửi về Pháp 74 hòm tặng phẩm có trọng lượng
4.910 kilô và kích cỡ là 30 mét khối.
““Văn minh” Pháp ở Đông Dương”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.255.
24
31. Bọn quan lại và tư sản lợi dụng phong trào
cách mạng để áp bức bóc lột nông dân. Ai không
“đút lót” cho chúng thì bị chúng vu cáo vào hội kín
hoặc cộng sản và bị bắt.
“Báo cáo về Hội nghị cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ,
giữa tháng 1 và 2”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.626.
II- GIAI ĐOẠN TỪ NGÀY 2/9/1945
ĐẾN THÁNG 9/1954
32. Các ông nói: Miễn sao có tiền cho dân là
được?
Không được! Tiền là mạch máu cho mọi công
việc, tiền là cần thật, nhưng không phải vì cần
tiền mà cứ đi đè đầu bóp cổ hay dùng những thủ
đoạn không chính đáng để vơ vét lấy tiền.
Làm tiền bằng cách bán ngôi thứ tức là gây
cho dân chúng có óc hiếu danh, trong khi cần phải
trừ tiệt óc đó để gây cho mọi người có óc thiết
thực, góp sức vào công cuộc giữ gìn và xây dựng
đất nước.
Trong lúc xung quanh mình, người ta mở ngày
Vàng, ngày Văn hóa, diễn kịch để lấy tiền giúp
quỹ này, quỹ khác, Ủy ban nọ còn quay lại lối làm
tiền cũ rích, bán ngôi thứ, thật đã tỏ rõ một khối
óc đặc sệt. Những cuộc “làm tiền” phải đem theo
25
nó một ý nghĩa tuyên truyền nữa mới được. Sao
cho người ta nhận thấy rằng đồng tiền của người
ta bỏ ra là một viên gạch để góp vào việc xây đắp
nền móng quốc gia.
Bán ngôi thứ làm cho óc người ta đen tối thêm!
Tiền lấy như vậy cũng là một thứ tiền phi nghĩa.
Lòng sốt sắng làm tiền cho dân của ông Chủ tịch
nọ đáng hoan nghênh thật, nhưng cách làm tiền của
ông có hại cho sự tiến hóa của dân, cần phải bỏ ngay
đi, cũng như cần phải phủi đi hết những hủ tục
khác: làm rượu ăn mừng được bầu vào Ủy ban, dùng
chữ nho trong những tờ thông đạt, v.v..
“Bỏ cách làm tiền ấy đi!”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.62-63.
33. Cậy thế - Cậy thế mình ở trong ban này
ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao
được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân.
Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho
dân, chứ không phải để cậy thế với dân.
“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.65.
34. Hủ hóa - Ăn muốn cho ngon, mặc muốn
cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng
lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra?
26
Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên
cả thanh liêm, đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi
bà ủy viên, cho đến các cô các cậu ủy viên, cũng
dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai
phải chịu?
“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.65.
35. Tư túng - Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu
mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này
chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa
lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc
công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai.
“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.65.
36. Chia rẽ - Bênh vực lớp này, chống lại lớp
khác, không biết làm cho các từng lớp nhân
nhượng lẫn nhau, hòa thuận với nhau. Thậm chí
có đôi nơi để đất ruộng bỏ hoang, nông gia ta thán.
Quên rằng lúc này ta phải toàn dân đoàn kết,
không chia già trẻ, giàu nghèo để giữ nền độc lập,
chống kẻ thù chung.
“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.65.
27
37. Kiêu ngạo - Tưởng mình ở trong cơ quan
Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian,
nói phô1, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách
mạng” lên. Không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó
sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín
của Chính phủ.
“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.66.
38. Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn,
chứ không phải là kiệm.
Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.
Việc đáng làm trong một giờ, mà kéo dài đến 2,
3 giờ, là xa xỉ.
Hao phí vật liệu, là xa xỉ.
Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang
thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ.
Ăn không ngồi rồi, trong lúc đang cần kháng
chiến và xây dựng, là xa xỉ.
Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.123-124.
39. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.
Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng,
tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.
__________
1. Huênh hoang, khoác lác (B.T).
28
Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân,
ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư.
Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian
bán lậu, chợ đen chợ đỏ, tích trữ đầu cơ.
Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp hầu bóp họng
đồng bào.
Người cày ruộng, không ra công đào mương,
mà lấy cắp nước ruộng của láng giềng.
Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó
khăn mà bắt chẹt đồng bào.
Người cờ bạc, chỉ mong xoay của người làm của
mình. Đều là tham lam, đều là BẤT LIÊM.
Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của
mình là đạo vị (đạo là trộm).
Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm,
không dám làm, là tham vật úy lạo.
Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham
sinh úy tử.
Đều làm trái với chữ LIÊM.
Do BẤT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công
khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức
là trộm cắp.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.126-127.
40. Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các
đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì
quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu
29
lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút,
có dịp “dĩ công vi tư”1.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.127.
41. Mỗi người phải nhận rằng, tham lam là
một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với
nước, với dân.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.127.
42. Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng
thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng
thắn, tức là tà.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.129.
43. Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.
Làm việc TÀ, là người ÁC.
Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch
(liêm), CHÍNH là THIỆN.
Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.129.
44. Nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh ấy: hình
trạng bệnh ấy đại khái như sau:
__________
1. Dĩ công vi tư: Lấy của công làm của riêng (B.T).
30
A làm ở cấp tỉnh, nay được phái đi làm cấp
huyện, thì không khỏi hậm hực, tức bực. A tự hào
rằng tài năng như mình, đáng được “thăng” chức,
nay lại bị “giáng” chức. Thật rõ “trai hữu tài vô
duyên”. Do đó, mà A đâm ra chán nản, tiêu cực.
B ở cấp huyện, nay được phái làm cấp tỉnh. Đối
với những cán bộ cũ cấp tỉnh, thì B rụt rè, khúm
núm, sợ lòi ra mình còn kém, sợ anh em cười,
không dám bạo dạn nói bàn, làm việc.
Đối với những cán bộ cấp huyện, thì B tỏ vẻ tự
kiêu, tự đại, ra vẻ “nay ta là cấp trên”.
Cũng vì bệnh cấp bậc mà mỗi người đối với B
có một thái độ khác nhau, nhưng giống nhau ở chỗ
sai lầm:
Cán bộ cũ ở tỉnh thì xem khinh B cho B là
non nớt, chưa đủ tư cách.
Cán bộ huyện thì không trọng B vì rằng “hôm
qua B chẳng hơn gì chúng tôi, hôm nay B lãnh đạo
chúng tôi sao được”.
Lại cũng vì bệnh cấp bậc mà những cán bộ
cùng một cấp được điều động đến cơ quan khác,
công việc khác, thí dụ: C làm chánh văn phòng, D
làm việc trong văn phòng. Thế là D có vẻ hậm hực,
không muốn nghe mệnh lệnh C.
“Phải chữa cái bệnh cấp bậc”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.407.
31
45. Chứng bệnh ấy tỏ ra bằng màu vẻ:
Đối với người:
Cấp trên đối với cấp dưới, cán bộ đối với nhân
dân, quân quan đối với binh sĩ, bộ đội đối với dân
chúng - chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải
thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự
giác và tự động.
Đối với việc:
Chỉ biết khai hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ
thị. Chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc,
giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra.
Đối với mình:
Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua
chuyện. Nói một đường làm một nẻo.
Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến
nhân dân, đến đồng chí.
Một vẻ quan liêu nữa là: chỉ biết ăn sang, diện
cho kẻng; chẳng những không lo phụng sự nhân
dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình.
Tham ô, hủ hóa. Trước mặt dân chúng thì lên
mặt “quan cách mạng”.
Đó là mấy vẻ chính của bệnh quan liêu.
“Phải tẩy sạch bệnh quan liêu”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.433-434.
46. - Khuynh hướng cá nhân tự do: Vì cách sinh
hoạt, vì thói quen, mà tiểu tư sản có tính rời rạc.
32
Họ cho tổ chức và kỷ luật là bó buộc, khó chịu,
mất tự do.
- Thiếu tinh thần nhẫn nại: Khi vui thích, khi
hoàn cảnh thuận lợi thì hăng hái. Khi không vui
thích, khi gặp khó khăn, thì dễ đâm ra chán nản, bi
quan, tiêu cực. Do đó, khi thì quá tả, khi thì quá hữu.
- Giàu tính tự ái. Xem khinh lao động. Cho công
nông là dốt nát, lạc hậu. Do đó, xa quần chúng,
thiếu đoàn kết, kém dân chủ. Do đó mà cứ luẩn
quẩn với câu hỏi “Ai lãnh đạo cách mạng?”, dù sự
thật là lịch sử đã trả lời dứt khoát câu hỏi đó từ lâu
rồi. Cũng do đó mà khi thấy cất nhắc cán bộ công
nông, thì lầm tưởng...
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
TRẦN THANH LÂM
Phó Chủ tịch Hội đồng
Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM MINH TUẤN
Thành viên
NGUYỄN HOÀI ANH
PHẠM THỊ THINH
NGUYỄN ĐỨC TÀI
TỐNG VĂN THANH
4
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Quan liêu, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực
là kẻ thù nguy hiểm, là trở lực lớn đối với sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước, không chỉ làm mất đi
sự trong sạch của bộ máy Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng
đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức và vai trò nêu
gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên
chức mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối
với Đảng, Nhà nước và chế độ. Công cuộc đấu tranh
phòng, chống quan liêu, tham nhũng và đấu tranh
phòng, chống các biểu hiện tiêu cực của cán bộ, đảng
viên là hai nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây
dựng và chỉnh đốn Đảng, được Đảng và Nhà nước đặc
biệt quan tâm.
Xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác phòng,
chống quan liêu, tham nhũng và những biểu hiện
tiêu cực, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
xuất bản cuốn sách Hồ Chí Minh về chống
quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Nội dung
cuốn sách gồm những đoạn trích từ các bài viết,
bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được in trong
5
bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (Xuất bản năm 2021),
thể hiện tư tưởng của Người về công tác phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực.
Bố cục cuốn sách gồm ba phần:
Phần I: Nhận diện quan liêu, tham nhũng, tiêu cực;
Phần II: Nguyên nhân, tác hại của quan liêu,
tham nhũng, tiêu cực.
Phần III: Quan điểm, cách xử lý, giải pháp phòng,
chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực.
Cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá trị cho cán
bộ, đảng viên và những người quan tâm đến công tác
phòng, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong
giai đoạn hiện nay.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 11 năm 2022
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
Phần I
NHẬN DIỆN QUAN LIÊU,
THAM NHŨNG, TIÊU CỰC
I- GIAI ĐOẠN TRƯỚC NGÀY 2/9/1945
1. Còn như Chính phủ thuộc địa Pháp thì vẫn
ngoan cố một cách ngây thơ cho rằng ở Đông
Dương này muốn ràng buộc những người bản xứ
thì chỉ cần vỗ về họ mãi mãi bằng những bài diễn
văn long trọng, những luận điệu tuyên truyền
gian ngoan và bằng những lời thề nguyện trung
thành mà nó chỉ đáng giá ở chỗ người ta đặt vào
đấy: trong cái xứ này do thiếu sót hay nói cho
đúng hơn, là do ý định của Chính phủ, nên đâu
đâu từ trên xuống dưới cũng đều có cái nạn tham
nhũng mua quan bán chức, những bọn người mua
bán được bằng tiền thì không phải là những thứ
hàng hóa hiếm.
“Đông Dương và Triều Tiên”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2021, t.1, tr.19.
7
2. Vụ bê bối thứ hai là vụ Têa. Đây là điều bạn
đồng nghiệp của chúng tôi ở Đông Dương kể lại:
“ … Tất cả những kẻ có quyền hành như vậy
cũng đều sẽ lợi dụng để vơ vét của cải cho bản
thân mình và bằng cách đó sẽ mang lại tổn thất
lớn cho xã hội”.
“Từ vụ bê bối này đến vụ bê bối khác”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.173-174.
3. Ông Đáclơ nguyên bán cháo, trước là quan cai
trị tỉnh, bị lên án là ăn hối lộ, là cường hào và đã
gây ra cuộc nổi dậy đẫm máu ở Thái Nguyên, đã
được Chính phủ thuộc địa cử vào Hội đồng thành
phố Sài Gòn.
Ông Têa, kỹ sư và giám đốc một hãng buôn
lớn, bị tố cáo là có tội nhũng lạm mà không bị rầy
rà gì.
Giờ đến lượt Buđinô, viên quan cai trị này bị
kiện: đã đút túi số tiền lời một cuộc chợ phiên tổ
chức nhân dịp khánh thành tượng đài tử sĩ; đã đòi
và nhận một món tiền “bồi thường” lớn trả cho sự
có mặt của mình trong buổi chôn cất một mụ nhà
giàu bản xứ, đã đòi những món tiền lớn chè lá khi
cấp một giấy phép hay giấy lệnh nào đó.
“Diễn đàn Đông Dương”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.204.
8
4. Họ phải bỏ ra mấy chục ngàn đồng để chuộc
lại cái mà họ đã phải “nhượng không”. Lần thứ
hai này, vị quan cai trị đút túi thêm mấy tờ bạc
lớn nữa.
Bị kiện vì tội buôn bán người chết, bóc lột
người sống, tham ô lộ liễu, quan cai trị Buđinô
vừa được công lý Pháp cho trắng án. Ngày mai có
thể ông ta còn được huân chương.
Bao giờ người ta cũng vì uy tín chủng tộc, mà
xá tội cho lũ “vô lại khả ố”. Bao giờ người ta
cũng nhân danh nhân dân Pháp mà bắt công lý
làm đĩ bợm.
“Diễn đàn Đông Dương”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.205.
5. Đó là vì họ bị ăn cắp khắp mọi phía, bằng
mọi cách, do các quan cai trị, do bọn phong kiến
tân thời và nhà thờ. Xưa kia, dưới chế độ An Nam,
ruộng đất chia thành nhiều hạng tùy theo tốt xấu.
Thuế đánh theo sự phân hạng ấy. Dưới chế độ
thuộc địa hiện nay, tất cả những cái đó đều thay
đổi. Khi cần kiếm tiền các quan cai trị người Pháp
chỉ việc bắt thay đổi hạng ruộng. Chỉ một nét bút
thần kỳ là họ biến một đám ruộng xấu thành
ruộng tốt. Thế là người dân cày An Nam buộc phải
nộp thuế cho đám ruộng của mình nhiều hơn số
họ thu hoạch được.
9
Như thế vẫn chưa hết. Người ta còn tăng diện
tích ruộng đất một cách giả tạo bằng cách rút
ngắn đơn vị đo đạc. Bằng cách đó, thuế lập tức
tăng lên, nơi thì một phần ba, nơi thì hai phần ba.
Điều đó chưa đủ để thỏa mãn lòng tham không
đáy của Nhà nước bảo hộ cứ mỗi năm lại tăng mãi
thuế lên.
“Tình cảnh nông dân An Nam”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.244.
6. Những đồn điền ấy phần nhiều được lập ra
bằng lối ăn cắp hợp pháp hóa. Trong thời kỳ xâm
lược, người dân cày An Nam, cũng như người
Andátxơ năm 1870, đã bỏ ruộng đất của mình
lánh sang những vùng còn tự do. Khi họ trở về thì
ruộng đất của họ đã “thành đồn điền” mất rồi.
Hàng bao nhiêu làng đã bị tước đoạt đi như thế,
và người bản xứ lâm vào cảnh phải lao động cho
bọn chúa phong kiến tân thời, bọn này chiếm đoạt
có khi đến 90% thu hoạch.
“Tình cảnh nông dân An Nam”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.245.
7. Bên cạnh cái thế lực phần đời ấy còn có
những đấng cứu thế phần hồn nữa, các đấng này
trong khi truyền bá đức nghèo cho người An Nam,
cũng không quên tìm cách làm giàu bằng mồ hôi
và máu của người bản xứ. Ở Nam Kỳ, chỉ riêng
10
Hội Thánh truyền giáo cũng đã chiếm 1/5 ruộng đất
trong vùng. Mặc dầu trong kinh Thánh không có
dạy, song thủ đoạn chiếm đoạt những đất đai này
cũng thật rất giản đơn: đó là thủ đoạn cho vay nặng
lãi và hối lộ. Hội Thánh lợi dụng lúc mất mùa để cho
nông dân vay tiền và buộc họ phải cầm cố ruộng đất.
Vì lợi suất tính theo lối cắt cổ, nên người An Nam
không thể trả nợ đúng hạn; thế là tất cả ruộng đất
cầm cố bị rơi vào tay Hội truyền giáo.
“Tình cảnh nông dân An Nam”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.246.
8. Lụt lội, bão táp, nạn đói, nội chiến đều gây ra
cảnh cùng khổ cho nông dân.
Bọn quan liêu tham nhũng của chế độ quan
lại cũng chịu phần trách nhiệm gây ra cảnh đói
khổ ấy.
“Tình cảnh nông dân Trung Quốc”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.252.
9. Một tai họa khác nữa là chủ nghĩa quân phiệt.
Tất cả bọn tướng tá lớn nhỏ, kiểu Napôlêông, đều làm
giàu cho bản thân họ, làm giàu cho bè đảng và cho
bọn tay chân của họ, bằng mồ hôi nước mắt của nông
dân là những người hằng năm phải đóng vào khoảng
225.000.000 đôla.
“Tình cảnh nông dân Trung Quốc”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.252.
11
10. Quan lớn cai trị cứ việc dựa theo dân số và
thuế bạ của tỉnh mà quy định số tiền cần thiết cho
cuộc lễ, nhân số tiền đó lên gấp 3, gấp 4 hay gấp 5,
định ngày nộp, rồi đòi các kỳ hào hương lý đến và
nói với họ: “Quan lớn cần tiền, đây là số tiền quan
lớn muốn có, đây là kỳ hạn quan lớn định cho các
người để nộp cho quan lớn. Hãy liệu lấy đấy. Nếu
không thì...”. Để khỏi ngồi tù, các kỳ hào hương lý
cứ việc mà “liệu”. Số tiền bị nhân lên của cuộc lạc
quyên ép buộc thì dùng để “tỏ lòng tôn kính các
bậc đại nhân”, còn số thành của bài tính nhân thì
chui vào túi của quan lớn cai trị.
“Những cái tốt đẹp của nền văn minh Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.292.
11. Trong lúc người bản xứ bị tù đày vì
những duyên cớ vu vơ, thì bọn thực dân và bọn
quan cai trị phạm tội giết người, hối lộ, mua bán
chức tước, ăn cắp, vẫn nhẹ bước thang mây. Tôi
không nói đến ngài Đáclơ, Ủy viên Hội đồng
quốc gia tư vấn Nam Kỳ, hay ngài Bôđoanh,
Toàn quyền Đông Dương; chuyện của các vị ấy
đã qua ba năm nay rồi. Tôi muốn nói đến hai
viên chức ở Angiêri hồi tháng 4 vừa rồi, đã bị tố
cáo công khai về tội dùng giấy tờ giả mạo, về tội
thụt tiền công quỹ cùng các tội nặng khác,
nhưng lại được tha bổng. Tôi cũng muốn nói đến
12
mấy vị ủy viên Hội đồng tư vấn người Âu cũng ở
xứ thuộc địa đó, phạm tội giết người hay quả
tang đồng lõa giết một dân bản xứ, mà vẫn
không bị người ta đụng gì đến.
“Những cái tốt đẹp của nền văn minh Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.292-293.
12. Họ tìm mọi cách để lẩn tránh: người giàu
có thì đút lót còn người nghèo khó thì trốn
tránh. Có thấy những kẻ khốn cùng không có
tiền để đút lót và cũng không biết trốn đi đâu
được, bị cưỡng bách dồn về trại lính buồn bã như
những con vật mà người ta đem tới lò mổ; có
thấy những người cha mẹ, chị em, những người
vợ sắp cưới vừa khóc lóc vừa kêu van thảm thiết
đi theo những người lính mộ về “cái đại gia đình” ấy
như là đi theo những tội phạm bị đem lên máy
chém, mới hiểu được cái vinh dự to lớn của người
dân An Nam đi làm cái nghĩa vụ quân sự cay
nghiệt kia. Cho nên họ tìm mọi cơ hội để tự cứu
lấy mình.
“Những tội ác của chủ nghĩa quân phiệt”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.369.
13. Tôi đã nói chuyện về các ông nghị thanh
liêm. Bây giờ, tôi phải nói đến các quan cai trị có
đạo đức. Như các bạn biết đấy, để bảo vệ cho một
chế độ cướp bóc, phải có quân ăn cướp. Họa hoằn
13
có một viên quan cai trị nào lại thật thà và hiểu
biết hơn, lập tức viên ấy bị đàn lang sói quan thầy
hay bè bạn xua đuổi đi ngay. Thành thử ra 99%
quan cai trị là quân trộm cắp, chỉ nghĩ đến bóc lột
dân bản xứ để làm giàu, chẳng kiêng nể gì tài sản,
quyền lợi, tự do, đời sống của những người bị cai
trị cả.
“Các quan cai trị”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.391.
14. Một viên quan cai trị ở Bắc Kỳ đã tước
đoạt của một làng mấy hécta trồng mía để cho
một làng Công giáo. Rồi lão ta lại bắt bỏ tù
những kẻ bị tước đoạt khổ sở vì những người này
dám đi kiện.
“Các quan cai trị”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.391.
15. Thế mà chính ông ta, viên công sứ, đã bày
ra một âm mưu tưởng tượng, cho tiền kẻ tố cáo,
rồi hành hạ tra tấn bắt những người bị cáo phải
nhận những lời thú tội giả mạo. Việc hèn mạt ấy,
chính viên công sứ cũng đã thừa nhận. Nhưng ông
ta chẳng phải lo lắng gì về việc ấy cả; và ông cứ
tiếp tục những việc gian ác của mình.
“Các quan cai trị”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.391.
14
16. Một viên khâm sứ, can tội ăn hối lộ, hành
hung, biển thủ, làm và sử dụng giấy tờ giả mạo,
lại được tặng đệ tam đẳng Bắc đẩu bội tinh và
thăng lên chức quyền Toàn quyền.
“Các quan cai trị”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.392.
17. Một viên công sứ khác nắm trong tay cả
quyền hành của tổng đốc, thẩm phán, mõ tòa và
đội trưởng thúc thuế. Ông ta lợi dụng quyền hành
của mình chẳng một ai giám sát để bắt bớ, bỏ tù
hay kết án một cách võ đoán người An Nam đặng
bóp nặn họ.
“Các quan cai trị”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.392.
18. Một người Pháp khác, cũng kêu lên như thế
này: “Ở Đông Dương cũng đúng như vậy đấy, ở đây
“công lý” nằm trong tay những tên quan lại thiếu
trách nhiệm, hoặc khi chúng ta phải thực hành
công lý, thì bằng súng!”. Một người Pháp khác
viết: “Nếu viên chủ sự viện kiểm sát xét kỹ theo
đúng tinh thần pháp lý thì trong số hai nghìn
đến hai nghìn rưỡi biên bản lập hằng năm ở Bắc
Kỳ, không có biên bản nào là có giá trị đối với
Pari cả”.
“Công lý”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.445.
15
19. Quan cai trị Bôđoanh - bị một viên chức
Pháp tố cáo làm giả mạo giấy tờ - được phong
chức quyền Toàn quyền và được thưởng Bắc đẩu
bội tinh.
Quan cai trị Đáclơ - bị tố cáo ăn hối lộ; vì sự
nhũng lạm tàn bạo của ông ta mà xảy ra cuộc khởi
nghĩa ở một tỉnh làm cho nhiều người Pháp và An
Nam chết - lại được cử làm Ủy viên Hội đồng
thành phố.
Quan cai trị Buđinô - can tội tham ô, thụt tiền
công quỹ và nhũng lạm - lại được tha bổng.
Kỹ sư Têa - giám đốc một hãng lớn, bị tố cáo
tham ô - cũng được vô sự.
Một tên quan cai trị ở Quảng Châu Loan1 bị tố
cáo là đã dùng nhục hình giết chết hơn hai mươi
người bản xứ, lại được tha bổng.
Một tên quản ngục Côn Lôn, bị tố cáo là đã
giết một cách thản nhiên một lúc hơn 40 phạm
nhân, được trắng án và khen thưởng.
“Công lý”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.445-446.
20. Hết hành vi điên rồ này đến hành vi điên
rồ khác đã phung phí đồng tiền mà người dân An
Nam khốn khổ đã phải đổ mồ hôi nước mắt mới
__________
1. Thời kỳ này, Quảng Châu Loan là một xứ của Đông
Dương thuộc Pháp (B.T).
16
kiếm được. Chúng tôi chưa biết đích xác số tiền
chi tiêu cho vua An Nam sang ngao du bên Pháp,
chỉ biết rằng, để đợi ngày lành cho con rồng tre1
xuống tàu, người ta đã phải bồi thường cho tàu
Poóctốtxơ trong bốn ngày chờ đợi, mỗi ngày
100.000 phrăng (tức là 400.000 phrăng tất cả).
Tiền tàu hết 400.000 phrăng. Tiền chiêu đãi hết
240.000 phrăng (chưa kể tiền lương trả cho bọn
mật vụ để theo dõi người An Nam ở Pháp),
77.600 phrăng trả tiền ăn ở tại Mácxây cho lính
khố xanh dùng để “bồng súng chào” cụ lớn và
hoàng thượng.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.75.
21. Trước hết, ngoài bọn có thế lực ở chính
quốc ra, người ta còn cho mời ba chục viên chức
cao cấp ở các thuộc địa về; bọn này phè phỡn ở
__________
1. Con rồng tre: Ám chỉ vua Khải Định, xuất phát từ sự
việc sau đây: Năm 1922, Khải Định sang Pháp dự Hội chợ
triển lãm thuộc địa tại Mácxây, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã
viết vở kịch Con rồng tre để vạch trần bộ mặt bán nước
hại dân của Khải Định. Đại ý: có những cây tre thân hình
cong queo, những người chơi đồ cổ lấy về đẽo gọt thành
con rồng. Nó là một đồ chơi, một khúc tre nhưng lại được
mang tên và có hình dáng con rồng. Thực ra nó chỉ là một
vật vô dụng (B.T).
17
đường phố Cannơbie1 mà vẫn được lĩnh phụ cấp cả
ở triển lãm lẫn ở thuộc địa. Riêng Đông Dương
phải bỏ ra 12 triệu cho cuộc triển lãm này. Và các
bạn có biết người ta đã chi tiêu số tiền đó như thế
nào không? Một ví dụ: việc dựng lại cái mô hình
nổi tiếng của các cung điện Ăngco đã tốn 3.000
mét khối gỗ, giá 400 hoặc 500 phrăng một mét
khối. Tức là: từ 1 triệu 200 nghìn đến 1 triệu 500
nghìn phrăng!
Còn nhiều ví dụ khác về sự phung phí nữa.
Trong việc đi lại của quan toàn quyền, xe hơi và
xe luých vẫn chưa đủ, còn phải có một toa xe lửa
đặc biệt nữa kia; việc sửa sang toa xe đó tốn cho
ngân khố 125.250 phrăng.
Trong vòng mười một tháng hoạt động, nha
kinh tế (?) đã làm hao phí công quỹ Đông Dương
một số tiền 464.000 phrăng.
Tại trường thuộc địa, nơi “chế tạo” ra những
nhà khai hóa tương lai, 44 giáo sư đủ các loại được
đài thọ để dạy từ 30 đến 35 học viên. Lại phải tốn
hàng nghìn phrăng nữa.
Công việc thanh tra thường xuyên các công
trình phòng thủ thuộc địa hằng năm tốn cho ngân
sách 785.168 phrăng. Thế nhưng các ngài thanh
tra thì không bao giờ rời khỏi Pari và đối với các
__________
1. La Cannebière: Tên một đường phố đông đúc ở
Mácxây (B.T).
18
thuộc địa thì các ngài cũng không hiểu biết gì hơn
là hiểu biết ông trăng già!
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.75-76.
22. Nếu chúng ta đến các thuộc địa khác, thì ở
đâu chúng ta cũng thấy một tình trạng tệ lậu như
vậy. Để đón tiếp một phái đoàn “kinh tế” không
chính thức, ngân khố Máctiních “nhẹ bổng đi” mất
400.000 phrăng. Trong vòng 10 năm, ngân sách
Marốc từ 17 triệu lên 290 triệu phrăng, mặc dầu
người ta đã giảm 30% các khoản chi tiêu cho lợi
ích địa phương, tức là những khoản chi tiêu có thể
có lợi cho nhân dân bản xứ!
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.76.
23. Một cựu nghị sĩ đi thăm thuộc địa về, đã
phải kêu lên: “So với bọn viên chức thuộc địa
thì những tên cướp đường còn là những người
lương thiện!”.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.77.
24. Có thể nói một số phiên họp của Hội đồng
quản hạt chỉ là để bàn việc cướp giật công quỹ
một cách có phương pháp. Riêng một ông chủ
19
tịch nào đó của Hội đồng đã được lãnh thầu
những công việc trị giá hai triệu phrăng rồi. Ông
đổng lý sự vụ nọ, đại diện của Chính phủ trong
Hội đồng, đã xin tăng lương mình lên gấp đôi và
đã được chấp thuận. Việc làm một con đường kéo
dài năm này qua năm khác chẳng ai kiểm tra
đem lại cho một vị thứ ba những món lợi thường
xuyên đều đặn. Chức vụ thầy thuốc của các viên
chức Đông Dương đem lại cho vị thứ tư một
khoản lương khá hậu. Vị thứ năm được bổ làm
thầy thuốc các công sở thành phố. Vị thứ sáu
nhận cung ứng giấy và in tài liệu cho Chính phủ.
Cứ thế, vân vân và vân vân.
Kho bạc có vơi đi chút ít thì đã có những quý
quan làm cho nó đầy lại một cách nhanh chóng.
Với quyền hành sẵn có, họ sức cho dân bản xứ
biết nhà nước cần một khoản tiền bao nhiêu đó,
rồi họ phân bổ cho các làng phải đóng góp. Và các
làng lo vội vàng tuân lệnh để khỏi bị trừng phạt
ngay lập tức.
Khi một viên khâm sứ cần thanh toán một
khoản tiền gì đó thì ngài phát hành các bằng sắc
để bán.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.77.
25. Một trong những quan khâm sứ của chúng
ta, vì tiêu hết trước hạn mấy tháng tất cả kinh phí
20
cho chiếc xàlúp đã bắt công quỹ hoàn lại cho ngài
các khoản chi phí về một cuộc lễ tiết nào đó không
ai biết rõ, nhưng nói rằng nhà vua đã được mời
ngự trên xàlúp.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.77-78.
26. Một cựu Toàn quyền Đông Dương, một hôm
đã thú nhận rằng thuộc địa này đầy rẫy những viên
chức ăn hại ngân sách mà thường chẳng được tích
sự gì cả.
Một người thực dân viết: quá nửa số viên chức
ấy, từ các quan đầu tỉnh đến các quan chức khác,
đều không đủ tư cách cần thiết của những con
người được giao phó những quyền hạn rộng rãi và
ghê gớm như thế.
Tất cả bọn chúng chỉ có mỗi cái tài là phung
phí công quỹ, còn người An Nam khốn khổ thì cứ
nai lưng đóng góp, đóng góp mãi. Họ đóng góp
không những để trả lương cho những viên chức
giữ những chức vụ vô dụng, mà còn để trả lương
cho cả những viên chức không có chức vụ gì cả!
Năm 19..., 250.000 phrăng đã tan biến đi như thế.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.78.
21
27. Các quan cai trị đều là những ông vua
con. Họ muốn xung quanh mình cái gì cũng xa
hoa tráng lệ, và nói rằng, có thế mới nâng cao
được uy tín của họ đối với người bản xứ. Một viên
Công sứ nọ đã lập cả một đội kỵ mã cận vệ và
không bao giờ hắn đi đâu mà không có đội ấy
theo hầu. Ở tất cả các tòa sứ đều có từ 6 đến 11
con ngựa và 5, 6 cỗ xe sang trọng đủ kiểu: độc
mã, song mã, tứ mã1, v.v.. Ngoài những phương
tiện đi lại đã quá thừa ấy, còn thêm những xe hơi
mỹ lệ, tốn cho công quỹ hàng vạn đồng. Một viên
quan cai trị nọ còn có cả một tàu ngựa đua.
Tiền nhà cửa, bàn ghế, điện nước của các vị đó
đều do công quỹ đài thọ cả. Ngoài ra, những người
đánh xe, lái xe, giữ ngựa, làm vườn, tóm lại, tất cả
những kẻ hầu người hạ của họ cũng đều do nhà
nước trả tiền công.
Thậm chí những cuộc giải trí về văn chương
của những người tốt số ấy cũng lại do nhà nước
trang trải. Một viên quan cai trị đã ghi vào ngân
sách 900 đồng tiền sưởi ấm, và 1.700 đồng mua
báo chí! Một vị khác đã dùng mánh lới kế toán để
biến tiền mua sắm áo khoác ngoài, đàn dương
cầm, đồ trang sức thành những khoản vật liệu
__________
1. Trong bản tiếng Pháp, tác giả kể đủ các kiểu xe
như: victorias, muylords, tilburys, malabars, v.v.. (B.T).
22
tu bổ tòa sứ, hoặc những khoản tương tự như thế
để bắt ngân sách nhà nước phải chịu.
Dù trước kia họ là những anh hàng cháo, hoặc
giám thị trong các nhà trường, nhưng khi đã đặt
chân đến thuộc địa là các nhà khai hóa ấy của
chúng ta sống một đời sống đế vương. Một viên
quan cai trị dùng năm sáu lính khố xanh để chăn
dê cho mình; một viên khác bắt lính có nghề điêu
khắc chạm trổ cho mình những tượng phật xinh
xắn hoặc đóng cho mình những rương hòm rất
đẹp bằng gỗ dạ hương.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.79-80.
28. Sau khi đã được cấp không ruộng đất, bọn
chủ đồn điền còn được cấp không hoặc gần như
không, cả nhân công nữa. Nhà nước cung cấp cho
chúng một số tù khổ sai làm không công, hoặc
dùng uy quyền để mộ nhân công cho chúng với
một đồng lương chết đói. Nếu dân phu đến không
đủ số hoặc tỏ ra bất mãn, thì người ta dùng vũ lực;
bọn chủ đồn điền tóm cổ hào lý, đánh đập, tra tấn
họ cho đến khi họ chịu ký giao kèo hẹn nộp đủ số
nhân công mà chúng đòi hỏi.
Bên cạnh uy lực phần đời ấy, còn có những
đấng cứu thế phần hồn nữa. Các đấng này, trong
khi thuyết giáo “đức nghèo” cho người An Nam,
23
cũng không quên làm giàu trên mồ hôi và máu
của họ.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.91.
29. Một tờ báo tiếng Việt dịch đăng đạo luật
nói về việc trừng trị những hành động hối lộ trong
bầu cử, bài ấy đã bị cắt. Trong lúc đó thì quan
Thống đốc trắng trợn cho đòi những người đứng
đầu các tập đoàn cử tri đến văn phòng và truyền
cho họ phải bỏ phiếu và cổ động bỏ phiếu cho danh
sách được ngài có cảm tình nhất.
“Bản án chế độ thực dân Pháp”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.107.
30. Người ta còn thấy rõ sự thối nát của thực
dân Pháp qua thú nhận của tờ L'Impartial, cơ
quan ngôn luận của Pháp ở Đông Dương rằng viên
Thống đốc Cônhắc đã phạm một loạt hành động
tham nhũng. Cả người “đảng viên xã hội” Varen
cũng tham gia hăng hái vào việc tham nhũng vì
chỉ một vài tháng sau khi tới Đông Dương, ông ta
đã gửi về Pháp 74 hòm tặng phẩm có trọng lượng
4.910 kilô và kích cỡ là 30 mét khối.
““Văn minh” Pháp ở Đông Dương”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.255.
24
31. Bọn quan lại và tư sản lợi dụng phong trào
cách mạng để áp bức bóc lột nông dân. Ai không
“đút lót” cho chúng thì bị chúng vu cáo vào hội kín
hoặc cộng sản và bị bắt.
“Báo cáo về Hội nghị cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ,
giữa tháng 1 và 2”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.626.
II- GIAI ĐOẠN TỪ NGÀY 2/9/1945
ĐẾN THÁNG 9/1954
32. Các ông nói: Miễn sao có tiền cho dân là
được?
Không được! Tiền là mạch máu cho mọi công
việc, tiền là cần thật, nhưng không phải vì cần
tiền mà cứ đi đè đầu bóp cổ hay dùng những thủ
đoạn không chính đáng để vơ vét lấy tiền.
Làm tiền bằng cách bán ngôi thứ tức là gây
cho dân chúng có óc hiếu danh, trong khi cần phải
trừ tiệt óc đó để gây cho mọi người có óc thiết
thực, góp sức vào công cuộc giữ gìn và xây dựng
đất nước.
Trong lúc xung quanh mình, người ta mở ngày
Vàng, ngày Văn hóa, diễn kịch để lấy tiền giúp
quỹ này, quỹ khác, Ủy ban nọ còn quay lại lối làm
tiền cũ rích, bán ngôi thứ, thật đã tỏ rõ một khối
óc đặc sệt. Những cuộc “làm tiền” phải đem theo
25
nó một ý nghĩa tuyên truyền nữa mới được. Sao
cho người ta nhận thấy rằng đồng tiền của người
ta bỏ ra là một viên gạch để góp vào việc xây đắp
nền móng quốc gia.
Bán ngôi thứ làm cho óc người ta đen tối thêm!
Tiền lấy như vậy cũng là một thứ tiền phi nghĩa.
Lòng sốt sắng làm tiền cho dân của ông Chủ tịch
nọ đáng hoan nghênh thật, nhưng cách làm tiền của
ông có hại cho sự tiến hóa của dân, cần phải bỏ ngay
đi, cũng như cần phải phủi đi hết những hủ tục
khác: làm rượu ăn mừng được bầu vào Ủy ban, dùng
chữ nho trong những tờ thông đạt, v.v..
“Bỏ cách làm tiền ấy đi!”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.62-63.
33. Cậy thế - Cậy thế mình ở trong ban này
ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao
được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân.
Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho
dân, chứ không phải để cậy thế với dân.
“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.65.
34. Hủ hóa - Ăn muốn cho ngon, mặc muốn
cho đẹp, càng ngày càng xa xỉ, càng ngày càng
lãng mạn, thử hỏi tiền bạc ấy ở đâu ra?
26
Thậm chí lấy của công dùng vào việc tư, quên
cả thanh liêm, đạo đức. Ông ủy viên đi xe hơi, rồi
bà ủy viên, cho đến các cô các cậu ủy viên, cũng
dùng xe hơi của công. Thử hỏi những hao phí đó ai
phải chịu?
“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.65.
35. Tư túng - Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu
mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này
chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa
lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc
công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai.
“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.65.
36. Chia rẽ - Bênh vực lớp này, chống lại lớp
khác, không biết làm cho các từng lớp nhân
nhượng lẫn nhau, hòa thuận với nhau. Thậm chí
có đôi nơi để đất ruộng bỏ hoang, nông gia ta thán.
Quên rằng lúc này ta phải toàn dân đoàn kết,
không chia già trẻ, giàu nghèo để giữ nền độc lập,
chống kẻ thù chung.
“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.65.
27
37. Kiêu ngạo - Tưởng mình ở trong cơ quan
Chính phủ là thần thánh rồi. Coi khinh dân gian,
nói phô1, cử chỉ lúc nào cũng vác mặt “quan cách
mạng” lên. Không biết rằng, thái độ kiêu ngạo đó
sẽ làm mất lòng tin cậy của dân, sẽ hại đến oai tín
của Chính phủ.
“Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.66.
38. Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn,
chứ không phải là kiệm.
Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ.
Việc đáng làm trong một giờ, mà kéo dài đến 2,
3 giờ, là xa xỉ.
Hao phí vật liệu, là xa xỉ.
Ăn sang mặc đẹp trong lúc đồng bào đang
thiếu cơm, thiếu áo, là xa xỉ.
Ăn không ngồi rồi, trong lúc đang cần kháng
chiến và xây dựng, là xa xỉ.
Vì vậy, xa xỉ là có tội với Tổ quốc, với đồng bào.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.123-124.
39. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.
Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng,
tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.
__________
1. Huênh hoang, khoác lác (B.T).
28
Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân,
ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư.
Người buôn bán, mua 1 bán 10, hoặc mua gian
bán lậu, chợ đen chợ đỏ, tích trữ đầu cơ.
Người có tiền, cho vay cắt cổ, bóp hầu bóp họng
đồng bào.
Người cày ruộng, không ra công đào mương,
mà lấy cắp nước ruộng của láng giềng.
Người làm nghề (bất cứ nghề gì) nhân lúc khó
khăn mà bắt chẹt đồng bào.
Người cờ bạc, chỉ mong xoay của người làm của
mình. Đều là tham lam, đều là BẤT LIÊM.
Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của
mình là đạo vị (đạo là trộm).
Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm,
không dám làm, là tham vật úy lạo.
Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham
sinh úy tử.
Đều làm trái với chữ LIÊM.
Do BẤT LIÊM mà đi đến tội ác trộm cắp. Công
khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức
là trộm cắp.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.126-127.
40. Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các
đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì
quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu
29
lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút,
có dịp “dĩ công vi tư”1.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.127.
41. Mỗi người phải nhận rằng, tham lam là
một điều rất xấu hổ, kẻ tham lam là có tội với
nước, với dân.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.127.
42. Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng
thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng
thắn, tức là tà.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.129.
43. Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.
Làm việc TÀ, là người ÁC.
Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch
(liêm), CHÍNH là THIỆN.
Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác.
“Cần kiệm liêm chính”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.129.
44. Nhiều cán bộ ta còn mắc bệnh ấy: hình
trạng bệnh ấy đại khái như sau:
__________
1. Dĩ công vi tư: Lấy của công làm của riêng (B.T).
30
A làm ở cấp tỉnh, nay được phái đi làm cấp
huyện, thì không khỏi hậm hực, tức bực. A tự hào
rằng tài năng như mình, đáng được “thăng” chức,
nay lại bị “giáng” chức. Thật rõ “trai hữu tài vô
duyên”. Do đó, mà A đâm ra chán nản, tiêu cực.
B ở cấp huyện, nay được phái làm cấp tỉnh. Đối
với những cán bộ cũ cấp tỉnh, thì B rụt rè, khúm
núm, sợ lòi ra mình còn kém, sợ anh em cười,
không dám bạo dạn nói bàn, làm việc.
Đối với những cán bộ cấp huyện, thì B tỏ vẻ tự
kiêu, tự đại, ra vẻ “nay ta là cấp trên”.
Cũng vì bệnh cấp bậc mà mỗi người đối với B
có một thái độ khác nhau, nhưng giống nhau ở chỗ
sai lầm:
Cán bộ cũ ở tỉnh thì xem khinh B cho B là
non nớt, chưa đủ tư cách.
Cán bộ huyện thì không trọng B vì rằng “hôm
qua B chẳng hơn gì chúng tôi, hôm nay B lãnh đạo
chúng tôi sao được”.
Lại cũng vì bệnh cấp bậc mà những cán bộ
cùng một cấp được điều động đến cơ quan khác,
công việc khác, thí dụ: C làm chánh văn phòng, D
làm việc trong văn phòng. Thế là D có vẻ hậm hực,
không muốn nghe mệnh lệnh C.
“Phải chữa cái bệnh cấp bậc”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.407.
31
45. Chứng bệnh ấy tỏ ra bằng màu vẻ:
Đối với người:
Cấp trên đối với cấp dưới, cán bộ đối với nhân
dân, quân quan đối với binh sĩ, bộ đội đối với dân
chúng - chỉ biết dùng mệnh lệnh. Không biết giải
thích, tuyên truyền. Không biết làm dân chúng tự
giác và tự động.
Đối với việc:
Chỉ biết khai hội nghị, viết nghị quyết, ra chỉ
thị. Chứ không biết điều tra, nghiên cứu, đôn đốc,
giúp đỡ, khuyến khích, kiểm tra.
Đối với mình:
Việc gì cũng kềnh càng, chậm rãi, làm cho qua
chuyện. Nói một đường làm một nẻo.
Chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến
nhân dân, đến đồng chí.
Một vẻ quan liêu nữa là: chỉ biết ăn sang, diện
cho kẻng; chẳng những không lo phụng sự nhân
dân, mà còn muốn nhân dân phụng sự mình.
Tham ô, hủ hóa. Trước mặt dân chúng thì lên
mặt “quan cách mạng”.
Đó là mấy vẻ chính của bệnh quan liêu.
“Phải tẩy sạch bệnh quan liêu”,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.433-434.
46. - Khuynh hướng cá nhân tự do: Vì cách sinh
hoạt, vì thói quen, mà tiểu tư sản có tính rời rạc.
32
Họ cho tổ chức và kỷ luật là bó buộc, khó chịu,
mất tự do.
- Thiếu tinh thần nhẫn nại: Khi vui thích, khi
hoàn cảnh thuận lợi thì hăng hái. Khi không vui
thích, khi gặp khó khăn, thì dễ đâm ra chán nản, bi
quan, tiêu cực. Do đó, khi thì quá tả, khi thì quá hữu.
- Giàu tính tự ái. Xem khinh lao động. Cho công
nông là dốt nát, lạc hậu. Do đó, xa quần chúng,
thiếu đoàn kết, kém dân chủ. Do đó mà cứ luẩn
quẩn với câu hỏi “Ai lãnh đạo cách mạng?”, dù sự
thật là lịch sử đã trả lời dứt khoát câu hỏi đó từ lâu
rồi. Cũng do đó mà khi thấy cất nhắc cán bộ công
nông, thì lầm tưởng...
 





