NHẠC TẾT 2026
Ba người lính ngự lâm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thơi
Ngày gửi: 22h:27' 19-07-2024
Dung lượng: 17.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thơi
Ngày gửi: 22h:27' 19-07-2024
Dung lượng: 17.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TÁC GIẢ
Alexandre Dumas
Dumas Davy de la Pailleterie (sau này là Alexandre Dumas) sinh năm 1802 tại Villers Cotterêts
trong khu Aisne, ở Picardy, Pháp. Ông có hai chị gái là Marie Alexandrine (sinh năm 1794) và
Louise Alexandrine (1796 - 1797). Cha mẹ ông là bà Marie Louise Élisabeth Labouret, con gái của
một chủ nhà trọ và ông Thomas Alexandre Dumas.
Ông Thomas Alexandre được sinh ra tại thuộc địa Saint Domingue của Pháp (nay là Haiti), là con
lai ngoài giá thú của hầu tước Alexandre Antoine Davy de la Pailleterie, một quý tộc Pháp, Cao Ủy
Trưởng về pháo binh trong khu thuộc địa với Marie Cessette Dumas, nữ nô lệ da đen có nguồn gốc từ
Afro Caribbean. Không ai biết rõ bà được sinh ra tại Saint Domingue hay ở Châu Phi (dù thực tế bà
đã có một tên họ bằng tiếng Pháp nên có lẽ bà là người thiểu số Creole) và cũng không biết rằng cội
nguồn của bà là ở đâu.
Được cha đem về Pháp và cậu bé Thomas đã sống tự do một cách hợp pháp tại đây, Thomas
Alexandre Dumas Davy theo học một trường quân đội và gia nhập quân ngũ khi còn thiếu niên. Khi
trưởng thành, Thomas Alexandre lấy tên của mẹ là Dumas làm họ sau khi cắt đứt quan hệ với cha.
Dumas được thăng cấp tướng năm 31 tuổi, người lính đầu tiên có gốc gác Afro Antilles đạt được cấp
bậc này trong hàng ngũ quân đội Pháp. Ông đã tham gia trong Chiến Tranh Cách Mạng Pháp. Ông trở
thành Tổng chỉ huy trưởng trong Quân đội Pyrenees, người đàn ông da màu đầu tiên đạt được cấp bậc
đó. Dù là một vị tướng dưới trướng của Napoléon Bonaparte trong các chiến dịch ở Ý và Ai Cập
nhưng Thomas Dumas không còn được tín nhiệm vào năm 1800 nên đã yêu cầu nghỉ phép để quay về
Pháp. Trên đường về, tàu của ông phải dừng lại ở Taranto thuộc Vương quốc Napoli, tại đây ông và
những người khác bị giữ làm tù binh. Trong hai năm bị giam giữ, sức khỏe ông đã bị yếu đi. Tại thời
điểm Alexandre Dumas được sinh ra, cha ông bị suy kiệt nặng nề. Ông Thomas qua đời vì ung thu
năm 1806 khi Alexandre lên 4. Người mẹ góa phụ Marie Louise không đủ sức lo cho việc học hành
của con trai nhưng Dumas tập đọc mọi thứ trong khả năng và còn tự học tiếng Tây Ban Nha. Những
câu truyện kể của mẹ về lòng dũng cảm của người cha trong các trận đánh đã truyền cảm hứng cho trí
tưởng tượng sinh động của cậu bé. Mặc dù trở nên nghèo túng, gia đình vẫn có danh tiếng lỗi lạc của
người cha để lại và thứ hạng quý tộc để trợ giúp con cái thăng quan tiến chức. Năm 1822, sau khi
triều Bourbon phục hoàng, Alexandre Dumas 20 tuổi chuyển đến Paris. Ông đã có được một vị trí
trong văn phòng thuộc Cung điện Hoàng gia của Công Tước Orléans - Louis Philippe.
Ông lớn lên với sự chăm sóc và giáo dục của mẹ Dumas học hành chểnh mảng, khi học xong ông
làm thư ký cho một phòng công chứng, và bắt đầu viết những vở kịch đầu tiên cùng với một người
bạn, Tử tước Adolphe Ribbing De Leuven. Nhưng những tác phẩm đầu tay đó thất bại.
Năm 1823, nhờ viết chữ đẹp, ông được tới làm việc cho Công Tước Orléans với công việc giao
gửi hàng ở Paris. Dumas tiếp tục viết kịch và cuối cùng cũng tìm được thành công với vở diễn Henri
III và triều đình tại nhà hát Comédie Française, công diễn lần đầu ngày 10 tháng 2 năm 1829. Sự
nghiệp văn chương của ông tiếp tục thành công, đặc biệt trong hai thể loại ông ưa thích: Kịch và tiểu
thuyết lịch sử.
Alexandre Dumas là một nhà văn có sức sáng tác mạnh mẽ. Ông để lại khoảng 250 tác phẩm, gồm
100 là tiểu thuyết, số còn lại là 91 vở kịch, rồi bút ký, phóng sự, hồi ký. Dumas có cả một đội ngũ
cộng sự, đặc biệt là Auguste Maquet, người góp phần vào nhiều thành công của Dumas. Trong những
tiểu thuyết của ông, nổi tiếng hơn cả là Ba Người Lính Ngự Lâm, còn được dịch Ba Chàng Ngự Lâm
Pháo Thủ (Trois Mousquetaires) và Bá Tước Monte Cristo (Le Comte de Monte Cristo) năm 1844.
Đương thời, Dumas bị chê trách là người ham ăn, ham chơi. Ông thường xuyên thết đãi thịnh soạn
bạn bè, người thân, công chúng hâm mộ, với những bữa tiệc sang trọng khiến ngay cả Paris cũng loá
mắt, trầm trồ. Ông còn để lại một công trình đặc biệt: cuốn Đại Từ Điển Ăn Uống, mà ông muốn được
hậu thế coi là đỉnh cao sự nghiệp văn chương của mình. Trong đời mình Dumas kiếm được 18 triệu
franc vàng, song ông luôn luôn nợ nần, nhiều lần trốn nợ, thậm chí ra nước ngoài, những năm cuối đời,
phải đến tá túc ở nhà con.
Dumas nức tiếng là người thay nhân tình như thay áo. Quả thật, ông cưới vợ chỉ một lần, gia đình
này tan vỡ rất nhanh. Ông dan díu với 25 người đàn bà, có nhiều con hoang, mỗi con của một mẹ. Chỉ
3 con được công khai, trong đó con trai, cũng tên Alexandre Dumas, thường được gọi Alexandre
Dumas con, trở nên một nhà văn lừng danh. Con gái thứ hai thì cuộc đời lỡ làng, con gái út - mà mẹ
cô trẻ hơn Dumas đến gần 40 tuổi - thì chết cô đơn năm 1936 ở một làng quê trong nghèo khổ và
không được ai biết đến là con gái cưng của một trong những vĩ nhân của nước Pháp. Mãi gần đây,
người ta mới vỡ lẽ rằng Dumas đến với nhiều phụ nữ là do thương họ. Ông đồng thời chu cấp tiền
nong đầy đủ cho vài người.
Alexandre Dumas Dumas là người hết sức quý trọng tình bạn. Trừ Balzac và Musset, các nhà văn
cùng thời đều chơi với ông, thân nhất là Victor Hugo, người đã đánh giá chính xác vai trò của ông
ngay khi ông qua đời. Hugo viết: "Trong thế kỷ này, không ai được dân chúng yêu mến sâu rộng và
thắm thiết bằng Alexandre Dumas. Các thành công của ông đều tầm cỡ hơn thành công nói chung
nhiều. Đó là những đại thắng lợi. Đó là những ngọn đèn pha". Ông cũng là người đại lượng, năm
1831, do ghen tức với thành công của vở Antony của ông, Hugo cho người viết báo chê bai. Hai
người giận nhau. Song năm 1834, ông chủ động giảng hoà.
Để hoàn toàn chủ động trong hoạt động sân khấu, ông bỏ ra một món tiền lớn để xây dựng Nhà hát
kịch lịch sử của riêng ông. Khán giả rất nồng nhiệt, song không bù đắp nổi chi phí bỏ ra, nên cuối
cùng nhà hát đóng cửa. Từ năm 1848, ông đã ra tờ báo đầu tiên. Sau đó, ông còn ra nhiều tờ báo nữa.
Nhưng do quản lý kém, bị kiểm duyệt gây khó dễ, các tờ báo ấy tồn tại không bền, và ngốn của ông rất
nhiều công sức và tiền bạc.
Ông cũng hai lần ứng cử vào Nghị viện đều thất bại, ứng cử vào Hội quốc ước thì chỉ được 261
phiếu, trong khi các đối thủ được 220.000, rồi phải sang Bỉ lưu vong năm 1851, sau cuộc đảo chính
của Napoléon III.
Ông mất năm 1870 ở Puys, vùng Dieppe. Thi hài của ông được chuyển về Điện Panthéon năm
2002, bất chấp ý nguyện cuối đời của ông: "Trở về bóng đêm của tương lai cùng nơi tôi ra đời"
(rentrer dans la nuit de l'avenir au même endroit que je suis sorti de la vie du passé), "nơi một nghĩa
địa đẹp (Villers Cotterêts) trong mùi hoa của rào quanh..." (dans ce charmant cimetière qui a bien
plus l'air d'un enclos de fleurs où faire jouer les enfants que d'un champ funèbre à faire coucher les
cadavres)
• Các Tác Phẩm
Những tội ác trứ danh (1839 -1841); Ba người lính ngự lâm (1844); Hai mươi năm sau (1845);
Những quận chúa nổi loạn (1845); Bá Tước Monte Cristo (1845 - 1846); Hoàng Hậu Margot (1845);
Kỵ sĩ Nhà Đỏ (1845 - 1846); Tử tước de Bragelonne (Cái chết của ba người lính ngự lâm, Mười năm
sau nữa - 1848); Hoa tulip đen (Bông uất kim hương đen - 1850)
• Tác Phẩm
Ba người lính ngự lâm (Tiếng Pháp: Les trois mousquetaires) là cuốn đầu tiên của bộ ba tập
truyện gồm Les Trois Mousquetaires, Vingt Ans après (Hai mươi năm sau), và Le Vicomte de
Bragelonne (Tử tước de Bragelonne). Bộ tiểu thuyết kể về những cuộc phiêu lưu của người lính ngự
lâm D'Artagnan, từ lúc anh còn trẻ cho đến lúc già. "Ba người lính ngự lâm" là cuốn nổi tiếng nhất và
cũng là hay nhất trong bộ ba, đã được dựng thành phim nhiều lần, cũng như phim truyền hình, phim
hoạt hình Pháp, và hoạt hình Nhật Bản.
— D'Artagnan: Được dựa trên một lính ngự lâm trong lịch sử là Charles de Batz de Castelmore
D'Artagnan (1611 - 1673). Cuốn sách Les mémoires de M. D'Artagnan của Gatien De Courtilz de
Sandras ghi lại cuộc đời của ông, và Dumas xây dựng nhân vật của mình dựa vào đó.
— Athos: Tên thật là Bá Tước de la Fère. Anh có một người vợ xinh đẹp (là Milady), nhưng sau
đó phát hiện ra cô ta có một dấu ấn hình hoa huệ trên vai (dấu ấn của một tội phạm mà cô ta dùng phấn
để che đậy). De la Fère treo cổ vợ mình và bán hết tài sản để uống rượu. Sau đó anh gia nhập ngự lâm
quân với cái tên "nông dân" Athos. Dumas miêu tả Athos như một vị thánh .
— Porthos: Là một quý tộc xoàng tên du Valon, đã sử dụng tên giả để đi lính ngự lâm vì lính ngự
lâm mặc áo choàng rất ấn tượng và các cô rất thích. Sau khi cưới bà biện lý, anh trở thành du Valon
de Bracieux de Pierrefonds. Nhưng anh còn muốn kéo dài tên mình thêm nữa, và muốn có thêm chữ
"nam tước" đặt trước đó. Porthos là người ngốc nhất trong 4 người.
— Aramis: Tên thật là d'Herblay, là người rất điệu, và thường xuyên đưa tay lên để tránh gân máu
nổi lên làm xấu bàn tay đẹp. Khi làm lính thì anh thất tình và muốn làm mục sư, nhưng khi làm mục sư
thì đi lăng nhăng và nhớ những cuộc đánh nhau. Aramis không hề kém D'Artagnan về sự tinh nhanh,
mưu trí và anh cũng rất coi trọng tình bạn.
GIỚI THIỆU
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Một ngày năm 1842, một con người to lớn tràn trề sức lực hể hả bước vào phòng đọc Thư Viện
Marseille và tự giới thiệu: Alexandre Dumas.
Người thủ thư bối rối vì trọng vọng. Danh tiếng của Dumas lúc này đã vang dội. Ông mượn
“Những Hồi Ký Của Ông D'Artagnan” xuất bản năm 1704 và mượn luôn cả một bộ sách có tên:
“Richelieu, Colbert và Mazarin[1]. A. Dumas đã quên phắt không đem trả bộ sách đó. Một chi tiết rất
nhỏ nhặt không đáng để ý nếu không có chuyện từ mấy cuốn sách ấy sinh ra cuốn truyện tuyệt vời “Ba
Người Lính Ngự Lâm.”
Năm 1842 A. Dumas tròn bốn mươi tuổi, tức ông sinh năm 1802, cùng năm sinh với Victor Hugo,
mà Hugo đã viết: “Thế kỷ ấy đã được hai năm” (Ce siècle a deux ans).
Ngày 24 tháng bảy năm 1802, viên tướng của phái Cộng Hòa thời Quốc Ước, Thomas Alexandre
Dumas gửi cho tướng Bruyle bức thư ngắn nội dung như sau: “Bruyle thân mến, tôi vui mừng báo tin
cho anh, vợ tôi sáng hôm qua đã sinh một bé trai to lớn, nặng khoảng 4 kg rưỡi và dài 48 cm. Rồi anh
sẽ thấy nó tiếp tục lớn lên ở ngoài như nó đã lớn lên như thế ở bên trong.” Tướng Dumas yêu cầu bạn
đồng nghiệp làm cha đỡ đầu cho nó. Ông viết thêm ở phần tái bút: “Tôi lại bóc thư ra để nói với anh
là thằng nhóc vừa đái phọt qua đầu nó. Một sự khởi đầu tốt, phải không anh!”
Sáu trăm tác phẩm của “thằng nhóc” được xuất bản quả đã chứng tỏ sự khởi đầu tốt đẹp.
Là con trai nhà quý tộc, Hầu tước de la Pailleterie, nhưng người mẹ lại là một nô tỳ da đen, tướng
Thomas là một người tư tưởng Cộng Hòa rõ rệt. Ông đã có lần cãi nhau với Napoléon:
“Tôi nghĩ phải đặt lợi ích nước Pháp lên trên lợi ích một con người, dù người ấy có vĩ đại đến
đâu chăng nữa… Tôi sẵn sàng rời bỏ ngài, nếu ngài tách rời khỏi nước Pháp.”
Vì vậy sau khi lên ngôi, Napoléon đã bạc đãi ông, ông xin về nghỉ hưu rồi qua đời trong cảnh túng
quẫn khi “thằng nhóc mới được bốn tuổi.” A. Dumas được mẹ vốn là con gái một chủ quán nuôi
dưỡng trong cảnh túng bấn ở Villers Cotterêts, không được học hành, ngoại trừ mấy bài học vỡ lòng
của một con người tốt bụng là ông mục sư. Nhưng lại học ở đời rất nhiều, đấy là vô tận những chuyến
đi rừng, những buổi đi săn kể cả săn trộm vô cùng hào hứng và đọc rất nhiều. Kho sách nhà Dumas
chứa đủ mọi loại sách mà A. Dumas ngốn ngấu một cách say mê. Mười lăm tuổi cậu theo học thầy
Mennesson, công chứng viên ở Villers Cotterêts để làm thư ký hạng ba.
Thư ký công chứng viên hàng ngày viết kín trang này đến trang khác có dán tem bằng nét chữ rất
đẹp và luôn thở dài nhớ rừng thân yêu. Đồng thời chàng cảm thấy nảy sinh trong mình sở thích mạnh
mẽ đối với thi ca và sân khấu, rồi liền đó cố viết những vần thơ ngắn gửi vài cô gái ở Villers
Cotterêts, hoặc Crépy en Valois. Một hôm ở lâu đài Villers Hélon, chàng làm quen với chàng trai trẻ
mười bảy tuổi hơn mình mấy tháng tên là Adolphe Ribbing De Leuven tự xưng là thi sĩ.
Một thi sĩ ư? Alexandre cũng reo thầm trong bụng: “Ta cũng vậy, ta cũng là thi sĩ.” Khi chàng biết
Adolphe thường lui tới các nhà hát ở Paris và quen biết Talma, diễn viên bi kịch nổi tiếng, nhiệt tình
của chàng với thi ca và sân khấu trở thành vô bờ bến. Tất cả đều cùng tồn tại: Paris, sân khấu, Talma
và chàng, một thi sĩ và hiện thời quyết định đi theo Adolphe đến Paris và sẽ tự giới thiệu với Talma.
Nhưng còn tiền? Mặc kệ, chàng vừa đi vừa săn. Một con muông bị giết ở dọc đường đủ để trả tiền ăn
đường.
Talma tiếp chàng và hỏi chuyện:
— Anh làm gì ở tỉnh nhỏ?
— Tôi không dám nói đâu, - Alexandre thở dài - Tôi là thư ký công chứng quèn.
— Vớ vẩn, - Talma nói - Không vì thế mà thất vọng. Corneille[2] cũng vốn là thư ký biện lý.
Và quay lại các bạn, Talma nói thêm:
— Thưa các vị, tôi xin giới thiệu với các vị một Corneille tương lai.
Sau đó, nhờ tướng Foy, một đại biểu Quốc hội thuộc phái tự do chàng được vào làm thư ký phụ
động ngạch rất thấp cho một văn phòng của Đại Quận Công Orléans (sau này là vua Louis Philippe).
Không sao, miễn điều đó có nghĩa là được ở Paris. Từ đó hàng ngày, từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều
chàng biên chép những báo cáo, rồi lại vẫn những báo cáo, sau đó chàng trở về căn nhà nhỏ của mình
ở khu phố người Italia, đối diện với nhà hát Hài kịch. Không lấy gì làm vui lắm. May sao cùng tầng
gác lại có một cô gái xinh đẹp tóc vàng hung, không giữ gìn lắm. Người ta lân la làm quen hàng xóm
láng giềng. Dumas vốn có óc hài hước làm cho cô Catherine De Labay cười thích thú. Thế rồi ngày
27 tháng 7 năm 1824, một kẻ quyến rũ đàn bà thứ ba ra đời làm ầm ĩ khu phố người Italia. Người ta
gọi nó là Alexandre. Người ta có nhẽ đã bắt quả tang khát vọng làm cha của chàng nếu cho chàng biết
cái thằng bé Alexandre đó một ngày kia cũng nổi tiếng như chàng với tác phẩm Trà Hoa Nữ.
Dumas có người bạn làm việc cùng phòng tên là Lassagne luôn miệng nhắc: “Nước Pháp đang
mong chờ một cuốn tiểu thuyết lịch sử."
Và nhờ có Lassagne, Dumas bắt đầu đọc, đúng hơn là ngốn ngấu rất nhiều tác giả. Đọc thì đọc rồi.
Nhưng còn viết? Cộng tác với Adolphe và Rousseau, một ông già say. Alexandre viết một vở hài kịch
dân phổ thông: Cuộc đi săn và tình yêu. Vở kịch được diễn, chỉ còn hai câu là đáng nhớ:
“Bởi muốn hạ bệ một chú thỏ rừng,
Ta phải là thỏ nhà ưu tú."
Tuy vậy, nó cũng đem lại cho Dumas 300 francs. Và chàng mang ngay đến một nhà in để bằng tiền
túi của mình xuất bản một tập truyện. Tập truyện chỉ bán được đúng bốn bản in. Lúc đó là vào buổi
bình minh của chủ nghĩa lãng mạn. Dumas thề: “Chiến thắng hoặc rã họng ra.” Rõ ràng chàng vừa đọc
một mẩu chuyện khá bi thảm về Hoàng Hậu Christine của Thụy Điển trong tạp chí Tiểu sử phổ thông.
Một chuyện khá rắc rối éo le giữa một Hoàng Hậu và một cận thần, sự phản bội, sự trả thù và sự hèn
hạ. Thế là trong đầu Dumas sôi lên một vở kịch. Một kịch thơ? Ồ không, không có chuyện kịch thơ cổ
điển được Dumas muốn những vần thơ “run rẩy, đánh mạnh vào lòng người, khủng khiếp” cơ. Một cái
gì đó thoát ra khỏi sự tù túng của Luật tam duy nhất vẫn còn được tôn thờ. Ồ mặc xác mấy cái luật khô
cứng đó.
Vở bi kịch Hoàng Hậu Christine đã được ra đời như thế trong một căn phòng nhỏ thuê một trăm
Francs một năm, với ngòi bút của viên thư ký quèn của Công Tước Orléans. Dumas không quen ai
ngoài Charles Nodier. Nhờ Charles giới thiệu, một buổi sáng chàng được Nam tước Taylor, cố vấn
của Nhà Vua phụ trách hí trường nước Pháp tiếp. Taylor nằm nghe Dumas đọc Hoàng Hậu Christine.
Tác giả vừa đọc xong Taylor đã nhảy choàng xuống đất bảo chàng:
— Anh đến ngay nhà hát Pháp đi.
— Lạy Chúa, để làm gì ạ?
— Để đọc qua một lượt, càng nhanh càng tốt.
— Có đúng là tôi sẽ đọc cho hội đồng nghe không?
— Không được chậm hơn thứ bảy tới.
Thứ bảy tới, vở kịch được hoan hô nhiệt liệt. Dumas ra khỏi nhà hát sung sướng phát điên. Chàng
mới hai sáu tuổi. “Tôi trở về ngoại ô Thánh Denis, không trông thấy xe, đâm cả vào ngựa, nhảy qua
khe suối, vì ước lượng sai hụt chân rơi xuống giữa dòng, về đến nơi mới biết đánh rơi mất bản thảo,
nhưng không hề gì. Tôi đã thuộc lòng."
Vở Hoàng Hậu Christine bị chậm công diễn do kiểm duyệt không phải là tác phẩm đầu tiên của
Dumas được trình điễn. Trong khi chờ đợi, chàng đã viết Henri III và triều đình, vở kịch được diễn đi
diễn lại. Đã đến lúc phải lựa chọn giữa nghề thư ký và nhà hát, chàng quyết định giã từ văn phòng của
Đại Quận Công. Nhưng lần công diễn đầu tiên chàng đã mời “chủ mình”, tức vua Louis Philippe
tương lai đến dự.
Lần công diễn ấy đã đạt tới trên mức thành công một cuộc khải hoàn. Nó không những chỉ tạo nên
những tiếng hoan hô mà còn là một sự mê cuồng. Vở kịch kết thúc, khi nghệ sĩ Firmin lại ra sân khấu
giới thiệu tên tác giả, sự phấn khích đã trở thành của toàn thể khán giả, đến nỗi Công Tước Orléans
“đứng ngây ra” nghe tên người làm thư ký cho mình trong vòng ba tiếng đồng hồ đã trở thành một
trong những con người danh tiếng nhất thời đại.
Nói đó là một cuộc khải hoàn là nói đến cuộc khải hoàn của văn học lãng mạn nói chung. “Henri
III và triều đình” còn ra đời trước “Hernani” của Hugo, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa cổ điển,
Dumas đã mở đường cho Hugo và Vigny.
Cuộc cách mạng 1830 nổ ra đúng lúc và trở thành cuộc cách mạng của chính bản thân Alexandre
Dumas. Mang sẵn dòng máu cộng hòa của người cha, A. Dumas gắn bó cả tâm hồn và thể xác với cách
mạng. Ông tự mình cầm súng ra chia lửa với quân khởi nghĩa, tổ chức vệ quốc quân chống Bảo hoàng.
Ông viết trong hồi ký: “Đó là những người của nhân dân mà người ta đã gạt bỏ sau khi sự nghiệp đã
thành công. Sau khi canh gác ở cửa kho bạc, sắp chết đói đến nơi, họ đứng ở ngoài đường kiễng chân
đất ngó vào đám thực khách ăn bám của chính quyền trèo trên lưng họ để leo lên, đang chia nhau chức
vụ địa vị và danh vọng.”
Thái độ chính trị ấy của A. Dumas luôn được bộc lộc trong các tác phẩm của ông, tất nhiên cả ở
Ba Người Lính Ngự Lâm. Ba Người Lính Ngự Lâm là tập đầu trong tiểu thuyết bộ ba hơn bốn nghìn
trang viết, tiếp theo là hai tập Hai mươi năm sau và Tử tước Bragelonne (còn gọi là Mười năm sau
nữa) miêu tả xã hội Pháp trong vòng năm mươi năm qua hai triều đại Louis XIII và Louis XIV, với hai
Giáo Chủ kiêm Thủ Tướng Richelieu, Mazarin và Colbert tổng thanh tra tài chính và Hoàng Hậu Anne
Autriche, sau làm nhiếp chính dưới thời Louis XIV.
Mặc dầu giá trị lớn lao của tác phẩm nhưng vì là tiểu thuyết đăng tải, cho nên không tránh khỏi
những chỗ lầm lẫn trước sau, tính cách có phần đơn giản sơ lược và lối văn đã gần hai thế kỷ có phần
dài dòng bao biện.
Sáu trăm tác phẩm, một tác giả khổng lồ, một sức viết khổng lồ, một con người khổng lồ của thời
đại. Sở thích lớn nhất của ông là làm việc. Ông viết liền ba tháng không nghỉ. Viết xong, ông dừng lại,
đi du lịch. Nhưng từ Italia hoặc từ Tây Ban Nha trở về, ông luôn mang theo mấy cuốn mới viết xong.
Khi viết, ông đem hết tâm hồn, tình cảm vào trong trang viết. Trong Tử tước Bragelonne, ông để cho
Porthos chết rồi ôm mặt khóc nức nở. Đêm nghe cha khóc, Dumas con tưởng có chuyện gì sang hỏi bố.
Ông trả lời: “Porthos chết rồi và chết thê thảm quá!”
Nhưng con người khổng lồ ấy chẳng những có trái tim nhạy cảm mà còn là một người hết sức
khiêm tốn. Ông thích phi ngựa đến qụy ngựa và yêu đàn bà.
Dumas đã từng cưới một nữ diễn viên hài kịch trẻ hơn mình rất nhiều, nàng Ida Ferrier,
Chateaubriand là người làm chứng cho cuộc hôn nhân này. Ông từ Praha về, nơi ông đã từng cầu chúc
cho chế độ quân chủ bị trục xuất. Dumas yêu cầu ông cầu chúc cho vợ mình. Chateaubriand nhận lời,
tuy không tránh khỏi liếc nhìn cái nịt ngực của người đàn bà này, và lẩm bẩm: “Nhất định tôi cầu chúc
cho mọi cái đang rơi".
Bị công khai lừa dối, nhất là bởi bạn mình, Roger De Beauvoa, Dumas “bỏ vợ”, trái hẳn với
những nhân vật của mình, ông làm việc này không ầm ĩ, thân mật và tốt bụng vô bờ.
Khi về già, ông có được một hạnh phúc không ngờ: Đứa con trai mà nàng Trà Hoa Nữ đã đem đến
cho ông. Alexandre đệ nhất đã đầu hàng trước bước đi ban đầu của Alexandre đệ nhị. Ông đến dự lễ
tặng hoa và ngồi ở hàng đầu, chính giữa, tràn trề hạnh phúc trước cả khi người ta gõ lên ba tiếng. Ông
bao giờ cũng mang một bó hoa khổng lồ. Đi dọc theo chiều dài của căn phòng, ông hoan hô, ông cười
vang vui vẻ nhìn xung quanh mình. Khi người ta vừa nêu tên tác giả, ông liền đứng lên, lòng đầy kiêu
hãnh chào mọi người như muốn nói: “Các vị thấy không, chính con trai tôi đã làm nên chuyện đó!.”
Còn Dumas con thì nói: “Cha tôi đó là đứa trẻ vĩ đại mà tôi đã có khi tôi còn rất bé".
Thật xứng đáng khi Dumas bố nói: “Tác phẩm lớn nhất của tôi là Dumas con!"
Tuy nhiên Dumas cha làm việc yếu dần. Cuộc chiến năm 1870 đã giáng một đòn dữ dội lên ông.
Cuối tháng tám năm ấy, Dumas con thấy ông trở về Dieppe, kiệt sức. Ông nói: “Ta về để chết ở chỗ
con đây".
Alexandre đệ nhị kêu khóc. Nhưng mọi sinh lực hình như đã rời bỏ Alexandre đệ nhất. Người ta
đặt ông lên một chiếc ghế bành trông ra biển. Một người đã từng ham thích làm việc như ông, rốt cuộc
đã khám phá ra niềm vui là chẳng làm gì cả. Sáu trăm tác phẩm xuất bản, ông đã kiếm được cơ man
nào là tiền, nhưng lúc này ông chỉ còn hai đồng Louis vàng. Ông nói với con trai: “Người ta cứ bảo
cha rất hoang phí. Nhưng đâu phải thế. Cha đến Paris với hai đồng Louis trong túi. Con hãy xem trong
áo gilet của ta, con sẽ thấy vẫn còn nguyên hai đồng Louis đấy chứ!"
Sáng ngày 4 tháng 12 năm 1870 con trai ông thấy ông đăm chiêu hơn thường lệ liền hỏi ông. Ông
hỏi lại một câu xé lòng:
— Con có tin có cái gì còn lại của cha không?
— Có chứ, là cha đấy, con xin thề như vậy.
Hôm sau, sáu giờ tối, A. Dumas qua đời. Victor Hugo viết:
“Ở thế kỷ này không ai được dân chúng mến yêu hơn A. Dumas. Cái ông gieo mầm, đó là tư tưởng
Pháp. A. Dumas quyến rũ, mê hoặc, làm lợi, làm vui và dạy dỗ mọi người. Từ tất cả những tác phẩm
của ông, rất phong phú, rất đa dạng, rất sinh động, rất duyên dáng, rất mạnh mẽ, toát ra một thứ ánh
sáng riêng của nước Pháp!.”
Trở thành bạn của độc giả, đó là mong ước của nhà văn vĩ đại.
Và ông đã làm được điều đó.
I
Ba tặng vật của ông D'Artagnan bố
Ngày thứ hai đầu tiên của tháng tư năm 1625, thị xã Meung[3] nơi sinh tác giả của cuốn tiểu thuyết
Hoa Hồng dường như trong một cơn cách mạng như thể người theo giáo phái Calvin[4] lần thứ hai lại
tới vây hãm Pháo thành La Rochelle[5]. Nhiều thị dân thấy đàn bà ở phố lớn chạy trốn, trẻ con kêu
khóc nơi ngưỡng cửa, liền vội vã khoác chiến bào, và bằng một khẩu hỏa mai hoặc ngọn giáo để củng
cố lòng dũng cảm, hướng về phía lữ quán Chủ Cối Xay. Trước lữ quán, một nhóm người chen chúc,
mỗi lúc một đông thêm, nhốn nháo, ồn ào và đầy vẻ tò mò.
Thời buổi ấy, những cơn hoảng loạn luôn xảy ra, không mấy khi lại không có thành phố này, thị
trấn nọ ghi ký vào sổ lưu trữ của mình một sự kiện nào đó thuộc loại ấy. Các lãnh chúa chinh phạt lẫn
nhau. Quốc Vương khai chiến với Giáo Chủ. Tây Ban Nha khai chiến với Quốc Vương. Rồi thì, ngoài
những cuộc chiến thầm lặng hoặc công khai, bí mật hoặc đường hoàng, lại còn bọn trộm cắp, lũ ăn
mày, bọn giáo phái Calvin, lũ sói, bọn lính hầu khai chiến với tất cả mọi người. Thị dân luôn vũ trang
chống bọn trộm cướp, chống lại lũ sói, chống lũ lính hầu, cũng thường chống lại các lãnh chúa và bọn
giáo phái Calvin, đôi khi chống cả Nhà Vua, nhưng không bao giờ chống lại Giáo Chủ và nước Tây
Ban Nha. Do đã quen như vậy nên ngày thứ hai tháng tư năm 1625 nói trên, nghe thấy tiếng náo động
nhưng không thấy màu cờ vàng và đỏ[6] cũng chẳng thấy bóng dáng đồng phục gia binh của Quận Công
Richelieu, đám thị dân liền đâm bổ về phía lữ quán Chủ Cối Xay. Đến đó rồi, ai cũng thấy và nhận ra
nguyên nhân sự náo động.
Một chàng trai trẻ, hãy phác chân dung chàng bằng một nét bút thôi: Các bạn hãy hình dung một
Don Quichotte[7] mười tám tuổi, Don Quichotte bị lột vỏ, không áo giáp, không xà cạp, chỉ mặc áo
chẽn ngắn bằng len màu xanh lơ đã biến thành một màu nâu, giữa cặn rượu vang và da trời. Mặt dài
sạm nâu, gò má cao, dấu hiệu của sự giảo hoạt, quai hàm bành rộng, nhân dạng không lẫn được của
người Gascogne ngay cả khi không có mũ nồi, mà chàng trai trẻ của ta lại đội mũ nồi gắn lông chim,
mắt mở to và thông minh, mũi khoằm, nhưng thanh tú, có vóc người quá to đối với chàng trai sắp thành
niên, mà một con mắt ít từng trải hẳn đã cho đó là con trai một chủ trại đi du hành, nếu không có thanh
gươm dài treo lơ lửng trên dải đeo bằng da, đập vào bắp chân người chủ khi đi bộ và đập vào lớp
lông dựng đứng của con vật cưỡi.
Do chàng trai trẻ có một con ngựa và con vật đó rất chi đặc biệt khiến người ta phải chú ý: Đó là
một con nghẽo nhỏ vàng Bearn, khoảng mười hai hoặc mười bốn tuổi, màu vàng áo, không bờm đuôi,
nhưng không phải không có chai ở các vó và khi đi, đầu thõng xuống quá dưới gối, khiến cho việc
thắng cương đai trở nên vô ích mà vẫn đi nổi tám dặm một ngày. Không may thay, những phẩm chất
của con nghẽo lại bị che giấu hết dưới bộ lông kỳ dị và dáng đi khiếm nhã của nó, khiến cho trong cái
thời mà mọi người đều sành ngựa, thì việc một con nghẽo nhỏ con của xứ Meung nói trên, mười lăm
phút trước đây, qua cửa ô Beaugency, lọt vào xuất hiện ở đây đã tạo nên một cảm giác thiếu thiện cảm
lan sang cả tới chủ nhân của nó.
Và cái cảm giác ấy lại còn nặng nề hơn đối với chàng D'Artagnan trẻ tuổi (được mệnh danh là
chàng Don Quichotte của con ngựa Rossinante), khác là vì như thế đến nỗi chàng chẳng hề giấu mình
cái khía cạnh lố lăng đem đến cho chúng, dù chàng có là một kỵ sĩ cừ khôi đến mấy với con nghẽo
như thế, cũng như chàng đã thườn thượt thở dài khi nhận món quà mà ông D'Artagnan bố đã ban tặng.
Chàng không phải không biết một con vật như thế ít ra cũng đáng giá hai mươi đồng vàng, còn những
lời lẽ kèm theo món quà thì là vô giá.
“Này con!"
Vị quý tộc xứ Gascogne nói bằng thứ tiếng thuần Bearn mà Vua Henri IV chẳng bao giờ có thể nói
khác nổi:
“Con ngựa này sinh ra trong ngôi của cha con, đã sống ở đây từ bấy đến nay, sắp tròn mười ba
tuổi, sẽ khiến con phải yêu quý nó. Đừng bao giờ bán nó, hãy để nó được chết già trong danh dự và
lặng lẽ. Nếu con đi đường cùng nó, hãy đối xử với nó như với một lão bộc. Tới triều đình - Ông
D'Artagnan bố nói tiếp - nếu có vinh dự đến đó, thật ra vinh dự thì dòng dõi quý tộc lâu đời của con
đã cho con quyền đó rồi, hãy bảo vệ xứng đáng danh hiệu quý tộc của con, danh hiệu mà tổ tiên đã giữ
nó một cách xứng đáng hơn năm trăm năm nay, hãy bảo vệ nó vì con và vì những người thân của con,
ý cha muốn nói đấy là cha và bạn bè con. Đừng bao giờ ủng hộ ai mà chỉ với Giáo Chủ và Nhà Vua.
Hãy nghe cho rõ, thời buổi bây giờ, một người quý tộc chỉ lập nghiệp bằng lòng dũng cảm, chỉ riêng
lòng dũng cảm của mình thôi. Kẻ nào run sợ trong giây phút có thể để tuột mất cơ may mà chỉ đúng
trong giây phút đó vận may mới chìa tay với họ. Con còn trẻ, con phải can trường bởi hai lẽ: Thứ
nhất, chính vì con là dân Gascogne và thứ hai, con là con bố. Đừng sợ những cơ hội và hãy tìm kiếm
những cuộc phiêu lưu. Bố đã cho con học múa gươm. Con có khoeo chân sắt, cổ tay thép, hãy chiến
đấu vào mọi lúc, các cuộc quyết đấu càng bị cấm đoán, do đó càng phải chiến đấu bằng gấp đôi lòng
dũng cảm. Con trai ạ, ta chỉ có mười lăm đồng vàng, con ngựa của ta và những lời khuyên như con
vừa nghe để cho con. Mẹ con sẽ thêm vào đó cách chế một món thuốc cao học được của một bà
Bohémienne, có một công năng kỳ lạ chữa khỏi mọi vết thương không chạm vào tim. Hãy tận dụng mọi
cái, và hãy sống hạnh phúc và trường thọ, ta chỉ còn một điều nữa để nói thêm, đó chính là tấm gương
ta nêu với con, không phải của ta, bởi ta chưa bao giờ có mặt ở triều đình, mà ta chỉ tình nguyện tham
gia chiến tranh tôn giáo, mà ta muốn nói đến ông Treville xưa từng là láng giềng của ta, người đã có
vinh dự khi còn tấm bé đã chơi với Vua Louis XIII của chúng ta. Đôi khi trò chơi của họ chuyển thành
các trận choảng nhau, và trong những trận chiến ấy Nhà Vua không phải lúc nào cũng là kẻ mạnh hơn.
Những miếng đòn Nhà Vua nhận được khiến Ngài càng thêm khâm phục, và thân thiết nhiều hơn
với ông Treville. Sau này lần đầu tiên trong chuyến đến Paris, ông Treville đã chiến đấu chống lại
những kẻ khác năm lần. Từ cái chết của Nhà Vua quá cố đến khi Nhà Vua trẻ trưởng thành, không kể
các cuộc chiến tranh và các cuộc vây thành, ông chiến đấu bảy lần, và từ khi Nhà Vua trưởng thành
đến nay, có lẽ tới trăm lần. Vì vậy, mặc dầu những pháp lệnh, những chỉ dụ, những sắc lệnh[8] thế mà
thấy không, ông vẫn cứ là đại úy ngự lâm quân, có nghĩa là chỉ huy binh đội Césars mà Nhà Vua chủ
yếu dựa vào đó, còn Giáo Chủ thì kiêng nể, vị Giáo Chủ như mọi người đều biết, có kiêng nể điều gì
đâu.
Hơn nữa, ông Treville kiếm mười nghìn đồng tiền vàng mỗi năm, vậy là cỡ một đại lãnh chúa
mạnh rồi. Ông ta cũng khởi đầu như con. Hãy đến gặp ông cùng với bức thư này, và hãy noi gương ông
để làm sao được như ông.”
Tới đây, ông D'Artagnan bố đeo thanh kiếm của mình, cho con trai, trìu mến ôm hôn chàng lên hai
bên má và cầu phúc cho chàng.
Rời khỏi phòng cha, chàng trai thấy mẹ mình đang đợi mình với phương thuốc trứ danh, theo lời
dặn dò của ông bố sẽ luôn luôn cần đến cho chàng. Cuộc giã biệt ở đây lâu la hơn và trìu mến hơn
“cuộc giã biệt” vừa rồi, chẳng phải vì ông D'Artagnan bố không yêu con trai, kẻ nối dõi độc nhất của
mình, nhưng ông ta là một người đàn ông và sẽ bị xem là không xứng đáng khi phó mặc mình cho cảm
xúc, còn như bà D'Artagnan, bà là đàn bà, hơn nữa là mẹ. Bà khóc sướt mướt, và phải khen chàng
D'Artagnan con, đã cố gắng để tỏ ra cứng rắn như một ngự lâm quân tương lai cần phải thế, nhưng bản
năng cuốn chàng theo khiến nước mắt chàng lã chã tuôn rơi, khó khăn lắm mới giấu đi được một nửa.
Cùng ngày hôm ấy, chàng trai trẻ lên đường mang theo ba tặng vật của cha như đã nói, gồm mười
lăm đồng vàng, con ngựa và bức thư cho ông Treville, hơn nữa có cả những lời khuyên nữa.
Với một hành trang như vậy, D'Artagnan thấy mình về tinh thần cũng như thể xác, như một bản sao
chính xác nhân vật của Cervatès mà ta đã đem ra so sánh một cách rất chi thích đáng, khi mà nhiệm vụ
của một sử gia buộc chúng tôi cần thiết phải phác họa chân dung chàng. Don Quichotte coi những cối
xay gió như những gã khổng lồ và lũ cừu là những đoàn quân, còn D'Artagnan lại coi mỗi nụ cười là
một sự lăng mạ và mỗi cái nhìn là một sự khiêu khích. Vì vậy, dọc đường từ Tarbes[9] đến Meung,
chàng luôn giữ chặt nắm đấm, và tay kia vì lý do này khác đặt lên đốc gươm đến mươi lần trong ngày,
tu...
Alexandre Dumas
Dumas Davy de la Pailleterie (sau này là Alexandre Dumas) sinh năm 1802 tại Villers Cotterêts
trong khu Aisne, ở Picardy, Pháp. Ông có hai chị gái là Marie Alexandrine (sinh năm 1794) và
Louise Alexandrine (1796 - 1797). Cha mẹ ông là bà Marie Louise Élisabeth Labouret, con gái của
một chủ nhà trọ và ông Thomas Alexandre Dumas.
Ông Thomas Alexandre được sinh ra tại thuộc địa Saint Domingue của Pháp (nay là Haiti), là con
lai ngoài giá thú của hầu tước Alexandre Antoine Davy de la Pailleterie, một quý tộc Pháp, Cao Ủy
Trưởng về pháo binh trong khu thuộc địa với Marie Cessette Dumas, nữ nô lệ da đen có nguồn gốc từ
Afro Caribbean. Không ai biết rõ bà được sinh ra tại Saint Domingue hay ở Châu Phi (dù thực tế bà
đã có một tên họ bằng tiếng Pháp nên có lẽ bà là người thiểu số Creole) và cũng không biết rằng cội
nguồn của bà là ở đâu.
Được cha đem về Pháp và cậu bé Thomas đã sống tự do một cách hợp pháp tại đây, Thomas
Alexandre Dumas Davy theo học một trường quân đội và gia nhập quân ngũ khi còn thiếu niên. Khi
trưởng thành, Thomas Alexandre lấy tên của mẹ là Dumas làm họ sau khi cắt đứt quan hệ với cha.
Dumas được thăng cấp tướng năm 31 tuổi, người lính đầu tiên có gốc gác Afro Antilles đạt được cấp
bậc này trong hàng ngũ quân đội Pháp. Ông đã tham gia trong Chiến Tranh Cách Mạng Pháp. Ông trở
thành Tổng chỉ huy trưởng trong Quân đội Pyrenees, người đàn ông da màu đầu tiên đạt được cấp bậc
đó. Dù là một vị tướng dưới trướng của Napoléon Bonaparte trong các chiến dịch ở Ý và Ai Cập
nhưng Thomas Dumas không còn được tín nhiệm vào năm 1800 nên đã yêu cầu nghỉ phép để quay về
Pháp. Trên đường về, tàu của ông phải dừng lại ở Taranto thuộc Vương quốc Napoli, tại đây ông và
những người khác bị giữ làm tù binh. Trong hai năm bị giam giữ, sức khỏe ông đã bị yếu đi. Tại thời
điểm Alexandre Dumas được sinh ra, cha ông bị suy kiệt nặng nề. Ông Thomas qua đời vì ung thu
năm 1806 khi Alexandre lên 4. Người mẹ góa phụ Marie Louise không đủ sức lo cho việc học hành
của con trai nhưng Dumas tập đọc mọi thứ trong khả năng và còn tự học tiếng Tây Ban Nha. Những
câu truyện kể của mẹ về lòng dũng cảm của người cha trong các trận đánh đã truyền cảm hứng cho trí
tưởng tượng sinh động của cậu bé. Mặc dù trở nên nghèo túng, gia đình vẫn có danh tiếng lỗi lạc của
người cha để lại và thứ hạng quý tộc để trợ giúp con cái thăng quan tiến chức. Năm 1822, sau khi
triều Bourbon phục hoàng, Alexandre Dumas 20 tuổi chuyển đến Paris. Ông đã có được một vị trí
trong văn phòng thuộc Cung điện Hoàng gia của Công Tước Orléans - Louis Philippe.
Ông lớn lên với sự chăm sóc và giáo dục của mẹ Dumas học hành chểnh mảng, khi học xong ông
làm thư ký cho một phòng công chứng, và bắt đầu viết những vở kịch đầu tiên cùng với một người
bạn, Tử tước Adolphe Ribbing De Leuven. Nhưng những tác phẩm đầu tay đó thất bại.
Năm 1823, nhờ viết chữ đẹp, ông được tới làm việc cho Công Tước Orléans với công việc giao
gửi hàng ở Paris. Dumas tiếp tục viết kịch và cuối cùng cũng tìm được thành công với vở diễn Henri
III và triều đình tại nhà hát Comédie Française, công diễn lần đầu ngày 10 tháng 2 năm 1829. Sự
nghiệp văn chương của ông tiếp tục thành công, đặc biệt trong hai thể loại ông ưa thích: Kịch và tiểu
thuyết lịch sử.
Alexandre Dumas là một nhà văn có sức sáng tác mạnh mẽ. Ông để lại khoảng 250 tác phẩm, gồm
100 là tiểu thuyết, số còn lại là 91 vở kịch, rồi bút ký, phóng sự, hồi ký. Dumas có cả một đội ngũ
cộng sự, đặc biệt là Auguste Maquet, người góp phần vào nhiều thành công của Dumas. Trong những
tiểu thuyết của ông, nổi tiếng hơn cả là Ba Người Lính Ngự Lâm, còn được dịch Ba Chàng Ngự Lâm
Pháo Thủ (Trois Mousquetaires) và Bá Tước Monte Cristo (Le Comte de Monte Cristo) năm 1844.
Đương thời, Dumas bị chê trách là người ham ăn, ham chơi. Ông thường xuyên thết đãi thịnh soạn
bạn bè, người thân, công chúng hâm mộ, với những bữa tiệc sang trọng khiến ngay cả Paris cũng loá
mắt, trầm trồ. Ông còn để lại một công trình đặc biệt: cuốn Đại Từ Điển Ăn Uống, mà ông muốn được
hậu thế coi là đỉnh cao sự nghiệp văn chương của mình. Trong đời mình Dumas kiếm được 18 triệu
franc vàng, song ông luôn luôn nợ nần, nhiều lần trốn nợ, thậm chí ra nước ngoài, những năm cuối đời,
phải đến tá túc ở nhà con.
Dumas nức tiếng là người thay nhân tình như thay áo. Quả thật, ông cưới vợ chỉ một lần, gia đình
này tan vỡ rất nhanh. Ông dan díu với 25 người đàn bà, có nhiều con hoang, mỗi con của một mẹ. Chỉ
3 con được công khai, trong đó con trai, cũng tên Alexandre Dumas, thường được gọi Alexandre
Dumas con, trở nên một nhà văn lừng danh. Con gái thứ hai thì cuộc đời lỡ làng, con gái út - mà mẹ
cô trẻ hơn Dumas đến gần 40 tuổi - thì chết cô đơn năm 1936 ở một làng quê trong nghèo khổ và
không được ai biết đến là con gái cưng của một trong những vĩ nhân của nước Pháp. Mãi gần đây,
người ta mới vỡ lẽ rằng Dumas đến với nhiều phụ nữ là do thương họ. Ông đồng thời chu cấp tiền
nong đầy đủ cho vài người.
Alexandre Dumas Dumas là người hết sức quý trọng tình bạn. Trừ Balzac và Musset, các nhà văn
cùng thời đều chơi với ông, thân nhất là Victor Hugo, người đã đánh giá chính xác vai trò của ông
ngay khi ông qua đời. Hugo viết: "Trong thế kỷ này, không ai được dân chúng yêu mến sâu rộng và
thắm thiết bằng Alexandre Dumas. Các thành công của ông đều tầm cỡ hơn thành công nói chung
nhiều. Đó là những đại thắng lợi. Đó là những ngọn đèn pha". Ông cũng là người đại lượng, năm
1831, do ghen tức với thành công của vở Antony của ông, Hugo cho người viết báo chê bai. Hai
người giận nhau. Song năm 1834, ông chủ động giảng hoà.
Để hoàn toàn chủ động trong hoạt động sân khấu, ông bỏ ra một món tiền lớn để xây dựng Nhà hát
kịch lịch sử của riêng ông. Khán giả rất nồng nhiệt, song không bù đắp nổi chi phí bỏ ra, nên cuối
cùng nhà hát đóng cửa. Từ năm 1848, ông đã ra tờ báo đầu tiên. Sau đó, ông còn ra nhiều tờ báo nữa.
Nhưng do quản lý kém, bị kiểm duyệt gây khó dễ, các tờ báo ấy tồn tại không bền, và ngốn của ông rất
nhiều công sức và tiền bạc.
Ông cũng hai lần ứng cử vào Nghị viện đều thất bại, ứng cử vào Hội quốc ước thì chỉ được 261
phiếu, trong khi các đối thủ được 220.000, rồi phải sang Bỉ lưu vong năm 1851, sau cuộc đảo chính
của Napoléon III.
Ông mất năm 1870 ở Puys, vùng Dieppe. Thi hài của ông được chuyển về Điện Panthéon năm
2002, bất chấp ý nguyện cuối đời của ông: "Trở về bóng đêm của tương lai cùng nơi tôi ra đời"
(rentrer dans la nuit de l'avenir au même endroit que je suis sorti de la vie du passé), "nơi một nghĩa
địa đẹp (Villers Cotterêts) trong mùi hoa của rào quanh..." (dans ce charmant cimetière qui a bien
plus l'air d'un enclos de fleurs où faire jouer les enfants que d'un champ funèbre à faire coucher les
cadavres)
• Các Tác Phẩm
Những tội ác trứ danh (1839 -1841); Ba người lính ngự lâm (1844); Hai mươi năm sau (1845);
Những quận chúa nổi loạn (1845); Bá Tước Monte Cristo (1845 - 1846); Hoàng Hậu Margot (1845);
Kỵ sĩ Nhà Đỏ (1845 - 1846); Tử tước de Bragelonne (Cái chết của ba người lính ngự lâm, Mười năm
sau nữa - 1848); Hoa tulip đen (Bông uất kim hương đen - 1850)
• Tác Phẩm
Ba người lính ngự lâm (Tiếng Pháp: Les trois mousquetaires) là cuốn đầu tiên của bộ ba tập
truyện gồm Les Trois Mousquetaires, Vingt Ans après (Hai mươi năm sau), và Le Vicomte de
Bragelonne (Tử tước de Bragelonne). Bộ tiểu thuyết kể về những cuộc phiêu lưu của người lính ngự
lâm D'Artagnan, từ lúc anh còn trẻ cho đến lúc già. "Ba người lính ngự lâm" là cuốn nổi tiếng nhất và
cũng là hay nhất trong bộ ba, đã được dựng thành phim nhiều lần, cũng như phim truyền hình, phim
hoạt hình Pháp, và hoạt hình Nhật Bản.
— D'Artagnan: Được dựa trên một lính ngự lâm trong lịch sử là Charles de Batz de Castelmore
D'Artagnan (1611 - 1673). Cuốn sách Les mémoires de M. D'Artagnan của Gatien De Courtilz de
Sandras ghi lại cuộc đời của ông, và Dumas xây dựng nhân vật của mình dựa vào đó.
— Athos: Tên thật là Bá Tước de la Fère. Anh có một người vợ xinh đẹp (là Milady), nhưng sau
đó phát hiện ra cô ta có một dấu ấn hình hoa huệ trên vai (dấu ấn của một tội phạm mà cô ta dùng phấn
để che đậy). De la Fère treo cổ vợ mình và bán hết tài sản để uống rượu. Sau đó anh gia nhập ngự lâm
quân với cái tên "nông dân" Athos. Dumas miêu tả Athos như một vị thánh .
— Porthos: Là một quý tộc xoàng tên du Valon, đã sử dụng tên giả để đi lính ngự lâm vì lính ngự
lâm mặc áo choàng rất ấn tượng và các cô rất thích. Sau khi cưới bà biện lý, anh trở thành du Valon
de Bracieux de Pierrefonds. Nhưng anh còn muốn kéo dài tên mình thêm nữa, và muốn có thêm chữ
"nam tước" đặt trước đó. Porthos là người ngốc nhất trong 4 người.
— Aramis: Tên thật là d'Herblay, là người rất điệu, và thường xuyên đưa tay lên để tránh gân máu
nổi lên làm xấu bàn tay đẹp. Khi làm lính thì anh thất tình và muốn làm mục sư, nhưng khi làm mục sư
thì đi lăng nhăng và nhớ những cuộc đánh nhau. Aramis không hề kém D'Artagnan về sự tinh nhanh,
mưu trí và anh cũng rất coi trọng tình bạn.
GIỚI THIỆU
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Một ngày năm 1842, một con người to lớn tràn trề sức lực hể hả bước vào phòng đọc Thư Viện
Marseille và tự giới thiệu: Alexandre Dumas.
Người thủ thư bối rối vì trọng vọng. Danh tiếng của Dumas lúc này đã vang dội. Ông mượn
“Những Hồi Ký Của Ông D'Artagnan” xuất bản năm 1704 và mượn luôn cả một bộ sách có tên:
“Richelieu, Colbert và Mazarin[1]. A. Dumas đã quên phắt không đem trả bộ sách đó. Một chi tiết rất
nhỏ nhặt không đáng để ý nếu không có chuyện từ mấy cuốn sách ấy sinh ra cuốn truyện tuyệt vời “Ba
Người Lính Ngự Lâm.”
Năm 1842 A. Dumas tròn bốn mươi tuổi, tức ông sinh năm 1802, cùng năm sinh với Victor Hugo,
mà Hugo đã viết: “Thế kỷ ấy đã được hai năm” (Ce siècle a deux ans).
Ngày 24 tháng bảy năm 1802, viên tướng của phái Cộng Hòa thời Quốc Ước, Thomas Alexandre
Dumas gửi cho tướng Bruyle bức thư ngắn nội dung như sau: “Bruyle thân mến, tôi vui mừng báo tin
cho anh, vợ tôi sáng hôm qua đã sinh một bé trai to lớn, nặng khoảng 4 kg rưỡi và dài 48 cm. Rồi anh
sẽ thấy nó tiếp tục lớn lên ở ngoài như nó đã lớn lên như thế ở bên trong.” Tướng Dumas yêu cầu bạn
đồng nghiệp làm cha đỡ đầu cho nó. Ông viết thêm ở phần tái bút: “Tôi lại bóc thư ra để nói với anh
là thằng nhóc vừa đái phọt qua đầu nó. Một sự khởi đầu tốt, phải không anh!”
Sáu trăm tác phẩm của “thằng nhóc” được xuất bản quả đã chứng tỏ sự khởi đầu tốt đẹp.
Là con trai nhà quý tộc, Hầu tước de la Pailleterie, nhưng người mẹ lại là một nô tỳ da đen, tướng
Thomas là một người tư tưởng Cộng Hòa rõ rệt. Ông đã có lần cãi nhau với Napoléon:
“Tôi nghĩ phải đặt lợi ích nước Pháp lên trên lợi ích một con người, dù người ấy có vĩ đại đến
đâu chăng nữa… Tôi sẵn sàng rời bỏ ngài, nếu ngài tách rời khỏi nước Pháp.”
Vì vậy sau khi lên ngôi, Napoléon đã bạc đãi ông, ông xin về nghỉ hưu rồi qua đời trong cảnh túng
quẫn khi “thằng nhóc mới được bốn tuổi.” A. Dumas được mẹ vốn là con gái một chủ quán nuôi
dưỡng trong cảnh túng bấn ở Villers Cotterêts, không được học hành, ngoại trừ mấy bài học vỡ lòng
của một con người tốt bụng là ông mục sư. Nhưng lại học ở đời rất nhiều, đấy là vô tận những chuyến
đi rừng, những buổi đi săn kể cả săn trộm vô cùng hào hứng và đọc rất nhiều. Kho sách nhà Dumas
chứa đủ mọi loại sách mà A. Dumas ngốn ngấu một cách say mê. Mười lăm tuổi cậu theo học thầy
Mennesson, công chứng viên ở Villers Cotterêts để làm thư ký hạng ba.
Thư ký công chứng viên hàng ngày viết kín trang này đến trang khác có dán tem bằng nét chữ rất
đẹp và luôn thở dài nhớ rừng thân yêu. Đồng thời chàng cảm thấy nảy sinh trong mình sở thích mạnh
mẽ đối với thi ca và sân khấu, rồi liền đó cố viết những vần thơ ngắn gửi vài cô gái ở Villers
Cotterêts, hoặc Crépy en Valois. Một hôm ở lâu đài Villers Hélon, chàng làm quen với chàng trai trẻ
mười bảy tuổi hơn mình mấy tháng tên là Adolphe Ribbing De Leuven tự xưng là thi sĩ.
Một thi sĩ ư? Alexandre cũng reo thầm trong bụng: “Ta cũng vậy, ta cũng là thi sĩ.” Khi chàng biết
Adolphe thường lui tới các nhà hát ở Paris và quen biết Talma, diễn viên bi kịch nổi tiếng, nhiệt tình
của chàng với thi ca và sân khấu trở thành vô bờ bến. Tất cả đều cùng tồn tại: Paris, sân khấu, Talma
và chàng, một thi sĩ và hiện thời quyết định đi theo Adolphe đến Paris và sẽ tự giới thiệu với Talma.
Nhưng còn tiền? Mặc kệ, chàng vừa đi vừa săn. Một con muông bị giết ở dọc đường đủ để trả tiền ăn
đường.
Talma tiếp chàng và hỏi chuyện:
— Anh làm gì ở tỉnh nhỏ?
— Tôi không dám nói đâu, - Alexandre thở dài - Tôi là thư ký công chứng quèn.
— Vớ vẩn, - Talma nói - Không vì thế mà thất vọng. Corneille[2] cũng vốn là thư ký biện lý.
Và quay lại các bạn, Talma nói thêm:
— Thưa các vị, tôi xin giới thiệu với các vị một Corneille tương lai.
Sau đó, nhờ tướng Foy, một đại biểu Quốc hội thuộc phái tự do chàng được vào làm thư ký phụ
động ngạch rất thấp cho một văn phòng của Đại Quận Công Orléans (sau này là vua Louis Philippe).
Không sao, miễn điều đó có nghĩa là được ở Paris. Từ đó hàng ngày, từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều
chàng biên chép những báo cáo, rồi lại vẫn những báo cáo, sau đó chàng trở về căn nhà nhỏ của mình
ở khu phố người Italia, đối diện với nhà hát Hài kịch. Không lấy gì làm vui lắm. May sao cùng tầng
gác lại có một cô gái xinh đẹp tóc vàng hung, không giữ gìn lắm. Người ta lân la làm quen hàng xóm
láng giềng. Dumas vốn có óc hài hước làm cho cô Catherine De Labay cười thích thú. Thế rồi ngày
27 tháng 7 năm 1824, một kẻ quyến rũ đàn bà thứ ba ra đời làm ầm ĩ khu phố người Italia. Người ta
gọi nó là Alexandre. Người ta có nhẽ đã bắt quả tang khát vọng làm cha của chàng nếu cho chàng biết
cái thằng bé Alexandre đó một ngày kia cũng nổi tiếng như chàng với tác phẩm Trà Hoa Nữ.
Dumas có người bạn làm việc cùng phòng tên là Lassagne luôn miệng nhắc: “Nước Pháp đang
mong chờ một cuốn tiểu thuyết lịch sử."
Và nhờ có Lassagne, Dumas bắt đầu đọc, đúng hơn là ngốn ngấu rất nhiều tác giả. Đọc thì đọc rồi.
Nhưng còn viết? Cộng tác với Adolphe và Rousseau, một ông già say. Alexandre viết một vở hài kịch
dân phổ thông: Cuộc đi săn và tình yêu. Vở kịch được diễn, chỉ còn hai câu là đáng nhớ:
“Bởi muốn hạ bệ một chú thỏ rừng,
Ta phải là thỏ nhà ưu tú."
Tuy vậy, nó cũng đem lại cho Dumas 300 francs. Và chàng mang ngay đến một nhà in để bằng tiền
túi của mình xuất bản một tập truyện. Tập truyện chỉ bán được đúng bốn bản in. Lúc đó là vào buổi
bình minh của chủ nghĩa lãng mạn. Dumas thề: “Chiến thắng hoặc rã họng ra.” Rõ ràng chàng vừa đọc
một mẩu chuyện khá bi thảm về Hoàng Hậu Christine của Thụy Điển trong tạp chí Tiểu sử phổ thông.
Một chuyện khá rắc rối éo le giữa một Hoàng Hậu và một cận thần, sự phản bội, sự trả thù và sự hèn
hạ. Thế là trong đầu Dumas sôi lên một vở kịch. Một kịch thơ? Ồ không, không có chuyện kịch thơ cổ
điển được Dumas muốn những vần thơ “run rẩy, đánh mạnh vào lòng người, khủng khiếp” cơ. Một cái
gì đó thoát ra khỏi sự tù túng của Luật tam duy nhất vẫn còn được tôn thờ. Ồ mặc xác mấy cái luật khô
cứng đó.
Vở bi kịch Hoàng Hậu Christine đã được ra đời như thế trong một căn phòng nhỏ thuê một trăm
Francs một năm, với ngòi bút của viên thư ký quèn của Công Tước Orléans. Dumas không quen ai
ngoài Charles Nodier. Nhờ Charles giới thiệu, một buổi sáng chàng được Nam tước Taylor, cố vấn
của Nhà Vua phụ trách hí trường nước Pháp tiếp. Taylor nằm nghe Dumas đọc Hoàng Hậu Christine.
Tác giả vừa đọc xong Taylor đã nhảy choàng xuống đất bảo chàng:
— Anh đến ngay nhà hát Pháp đi.
— Lạy Chúa, để làm gì ạ?
— Để đọc qua một lượt, càng nhanh càng tốt.
— Có đúng là tôi sẽ đọc cho hội đồng nghe không?
— Không được chậm hơn thứ bảy tới.
Thứ bảy tới, vở kịch được hoan hô nhiệt liệt. Dumas ra khỏi nhà hát sung sướng phát điên. Chàng
mới hai sáu tuổi. “Tôi trở về ngoại ô Thánh Denis, không trông thấy xe, đâm cả vào ngựa, nhảy qua
khe suối, vì ước lượng sai hụt chân rơi xuống giữa dòng, về đến nơi mới biết đánh rơi mất bản thảo,
nhưng không hề gì. Tôi đã thuộc lòng."
Vở Hoàng Hậu Christine bị chậm công diễn do kiểm duyệt không phải là tác phẩm đầu tiên của
Dumas được trình điễn. Trong khi chờ đợi, chàng đã viết Henri III và triều đình, vở kịch được diễn đi
diễn lại. Đã đến lúc phải lựa chọn giữa nghề thư ký và nhà hát, chàng quyết định giã từ văn phòng của
Đại Quận Công. Nhưng lần công diễn đầu tiên chàng đã mời “chủ mình”, tức vua Louis Philippe
tương lai đến dự.
Lần công diễn ấy đã đạt tới trên mức thành công một cuộc khải hoàn. Nó không những chỉ tạo nên
những tiếng hoan hô mà còn là một sự mê cuồng. Vở kịch kết thúc, khi nghệ sĩ Firmin lại ra sân khấu
giới thiệu tên tác giả, sự phấn khích đã trở thành của toàn thể khán giả, đến nỗi Công Tước Orléans
“đứng ngây ra” nghe tên người làm thư ký cho mình trong vòng ba tiếng đồng hồ đã trở thành một
trong những con người danh tiếng nhất thời đại.
Nói đó là một cuộc khải hoàn là nói đến cuộc khải hoàn của văn học lãng mạn nói chung. “Henri
III và triều đình” còn ra đời trước “Hernani” của Hugo, đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa cổ điển,
Dumas đã mở đường cho Hugo và Vigny.
Cuộc cách mạng 1830 nổ ra đúng lúc và trở thành cuộc cách mạng của chính bản thân Alexandre
Dumas. Mang sẵn dòng máu cộng hòa của người cha, A. Dumas gắn bó cả tâm hồn và thể xác với cách
mạng. Ông tự mình cầm súng ra chia lửa với quân khởi nghĩa, tổ chức vệ quốc quân chống Bảo hoàng.
Ông viết trong hồi ký: “Đó là những người của nhân dân mà người ta đã gạt bỏ sau khi sự nghiệp đã
thành công. Sau khi canh gác ở cửa kho bạc, sắp chết đói đến nơi, họ đứng ở ngoài đường kiễng chân
đất ngó vào đám thực khách ăn bám của chính quyền trèo trên lưng họ để leo lên, đang chia nhau chức
vụ địa vị và danh vọng.”
Thái độ chính trị ấy của A. Dumas luôn được bộc lộc trong các tác phẩm của ông, tất nhiên cả ở
Ba Người Lính Ngự Lâm. Ba Người Lính Ngự Lâm là tập đầu trong tiểu thuyết bộ ba hơn bốn nghìn
trang viết, tiếp theo là hai tập Hai mươi năm sau và Tử tước Bragelonne (còn gọi là Mười năm sau
nữa) miêu tả xã hội Pháp trong vòng năm mươi năm qua hai triều đại Louis XIII và Louis XIV, với hai
Giáo Chủ kiêm Thủ Tướng Richelieu, Mazarin và Colbert tổng thanh tra tài chính và Hoàng Hậu Anne
Autriche, sau làm nhiếp chính dưới thời Louis XIV.
Mặc dầu giá trị lớn lao của tác phẩm nhưng vì là tiểu thuyết đăng tải, cho nên không tránh khỏi
những chỗ lầm lẫn trước sau, tính cách có phần đơn giản sơ lược và lối văn đã gần hai thế kỷ có phần
dài dòng bao biện.
Sáu trăm tác phẩm, một tác giả khổng lồ, một sức viết khổng lồ, một con người khổng lồ của thời
đại. Sở thích lớn nhất của ông là làm việc. Ông viết liền ba tháng không nghỉ. Viết xong, ông dừng lại,
đi du lịch. Nhưng từ Italia hoặc từ Tây Ban Nha trở về, ông luôn mang theo mấy cuốn mới viết xong.
Khi viết, ông đem hết tâm hồn, tình cảm vào trong trang viết. Trong Tử tước Bragelonne, ông để cho
Porthos chết rồi ôm mặt khóc nức nở. Đêm nghe cha khóc, Dumas con tưởng có chuyện gì sang hỏi bố.
Ông trả lời: “Porthos chết rồi và chết thê thảm quá!”
Nhưng con người khổng lồ ấy chẳng những có trái tim nhạy cảm mà còn là một người hết sức
khiêm tốn. Ông thích phi ngựa đến qụy ngựa và yêu đàn bà.
Dumas đã từng cưới một nữ diễn viên hài kịch trẻ hơn mình rất nhiều, nàng Ida Ferrier,
Chateaubriand là người làm chứng cho cuộc hôn nhân này. Ông từ Praha về, nơi ông đã từng cầu chúc
cho chế độ quân chủ bị trục xuất. Dumas yêu cầu ông cầu chúc cho vợ mình. Chateaubriand nhận lời,
tuy không tránh khỏi liếc nhìn cái nịt ngực của người đàn bà này, và lẩm bẩm: “Nhất định tôi cầu chúc
cho mọi cái đang rơi".
Bị công khai lừa dối, nhất là bởi bạn mình, Roger De Beauvoa, Dumas “bỏ vợ”, trái hẳn với
những nhân vật của mình, ông làm việc này không ầm ĩ, thân mật và tốt bụng vô bờ.
Khi về già, ông có được một hạnh phúc không ngờ: Đứa con trai mà nàng Trà Hoa Nữ đã đem đến
cho ông. Alexandre đệ nhất đã đầu hàng trước bước đi ban đầu của Alexandre đệ nhị. Ông đến dự lễ
tặng hoa và ngồi ở hàng đầu, chính giữa, tràn trề hạnh phúc trước cả khi người ta gõ lên ba tiếng. Ông
bao giờ cũng mang một bó hoa khổng lồ. Đi dọc theo chiều dài của căn phòng, ông hoan hô, ông cười
vang vui vẻ nhìn xung quanh mình. Khi người ta vừa nêu tên tác giả, ông liền đứng lên, lòng đầy kiêu
hãnh chào mọi người như muốn nói: “Các vị thấy không, chính con trai tôi đã làm nên chuyện đó!.”
Còn Dumas con thì nói: “Cha tôi đó là đứa trẻ vĩ đại mà tôi đã có khi tôi còn rất bé".
Thật xứng đáng khi Dumas bố nói: “Tác phẩm lớn nhất của tôi là Dumas con!"
Tuy nhiên Dumas cha làm việc yếu dần. Cuộc chiến năm 1870 đã giáng một đòn dữ dội lên ông.
Cuối tháng tám năm ấy, Dumas con thấy ông trở về Dieppe, kiệt sức. Ông nói: “Ta về để chết ở chỗ
con đây".
Alexandre đệ nhị kêu khóc. Nhưng mọi sinh lực hình như đã rời bỏ Alexandre đệ nhất. Người ta
đặt ông lên một chiếc ghế bành trông ra biển. Một người đã từng ham thích làm việc như ông, rốt cuộc
đã khám phá ra niềm vui là chẳng làm gì cả. Sáu trăm tác phẩm xuất bản, ông đã kiếm được cơ man
nào là tiền, nhưng lúc này ông chỉ còn hai đồng Louis vàng. Ông nói với con trai: “Người ta cứ bảo
cha rất hoang phí. Nhưng đâu phải thế. Cha đến Paris với hai đồng Louis trong túi. Con hãy xem trong
áo gilet của ta, con sẽ thấy vẫn còn nguyên hai đồng Louis đấy chứ!"
Sáng ngày 4 tháng 12 năm 1870 con trai ông thấy ông đăm chiêu hơn thường lệ liền hỏi ông. Ông
hỏi lại một câu xé lòng:
— Con có tin có cái gì còn lại của cha không?
— Có chứ, là cha đấy, con xin thề như vậy.
Hôm sau, sáu giờ tối, A. Dumas qua đời. Victor Hugo viết:
“Ở thế kỷ này không ai được dân chúng mến yêu hơn A. Dumas. Cái ông gieo mầm, đó là tư tưởng
Pháp. A. Dumas quyến rũ, mê hoặc, làm lợi, làm vui và dạy dỗ mọi người. Từ tất cả những tác phẩm
của ông, rất phong phú, rất đa dạng, rất sinh động, rất duyên dáng, rất mạnh mẽ, toát ra một thứ ánh
sáng riêng của nước Pháp!.”
Trở thành bạn của độc giả, đó là mong ước của nhà văn vĩ đại.
Và ông đã làm được điều đó.
I
Ba tặng vật của ông D'Artagnan bố
Ngày thứ hai đầu tiên của tháng tư năm 1625, thị xã Meung[3] nơi sinh tác giả của cuốn tiểu thuyết
Hoa Hồng dường như trong một cơn cách mạng như thể người theo giáo phái Calvin[4] lần thứ hai lại
tới vây hãm Pháo thành La Rochelle[5]. Nhiều thị dân thấy đàn bà ở phố lớn chạy trốn, trẻ con kêu
khóc nơi ngưỡng cửa, liền vội vã khoác chiến bào, và bằng một khẩu hỏa mai hoặc ngọn giáo để củng
cố lòng dũng cảm, hướng về phía lữ quán Chủ Cối Xay. Trước lữ quán, một nhóm người chen chúc,
mỗi lúc một đông thêm, nhốn nháo, ồn ào và đầy vẻ tò mò.
Thời buổi ấy, những cơn hoảng loạn luôn xảy ra, không mấy khi lại không có thành phố này, thị
trấn nọ ghi ký vào sổ lưu trữ của mình một sự kiện nào đó thuộc loại ấy. Các lãnh chúa chinh phạt lẫn
nhau. Quốc Vương khai chiến với Giáo Chủ. Tây Ban Nha khai chiến với Quốc Vương. Rồi thì, ngoài
những cuộc chiến thầm lặng hoặc công khai, bí mật hoặc đường hoàng, lại còn bọn trộm cắp, lũ ăn
mày, bọn giáo phái Calvin, lũ sói, bọn lính hầu khai chiến với tất cả mọi người. Thị dân luôn vũ trang
chống bọn trộm cướp, chống lại lũ sói, chống lũ lính hầu, cũng thường chống lại các lãnh chúa và bọn
giáo phái Calvin, đôi khi chống cả Nhà Vua, nhưng không bao giờ chống lại Giáo Chủ và nước Tây
Ban Nha. Do đã quen như vậy nên ngày thứ hai tháng tư năm 1625 nói trên, nghe thấy tiếng náo động
nhưng không thấy màu cờ vàng và đỏ[6] cũng chẳng thấy bóng dáng đồng phục gia binh của Quận Công
Richelieu, đám thị dân liền đâm bổ về phía lữ quán Chủ Cối Xay. Đến đó rồi, ai cũng thấy và nhận ra
nguyên nhân sự náo động.
Một chàng trai trẻ, hãy phác chân dung chàng bằng một nét bút thôi: Các bạn hãy hình dung một
Don Quichotte[7] mười tám tuổi, Don Quichotte bị lột vỏ, không áo giáp, không xà cạp, chỉ mặc áo
chẽn ngắn bằng len màu xanh lơ đã biến thành một màu nâu, giữa cặn rượu vang và da trời. Mặt dài
sạm nâu, gò má cao, dấu hiệu của sự giảo hoạt, quai hàm bành rộng, nhân dạng không lẫn được của
người Gascogne ngay cả khi không có mũ nồi, mà chàng trai trẻ của ta lại đội mũ nồi gắn lông chim,
mắt mở to và thông minh, mũi khoằm, nhưng thanh tú, có vóc người quá to đối với chàng trai sắp thành
niên, mà một con mắt ít từng trải hẳn đã cho đó là con trai một chủ trại đi du hành, nếu không có thanh
gươm dài treo lơ lửng trên dải đeo bằng da, đập vào bắp chân người chủ khi đi bộ và đập vào lớp
lông dựng đứng của con vật cưỡi.
Do chàng trai trẻ có một con ngựa và con vật đó rất chi đặc biệt khiến người ta phải chú ý: Đó là
một con nghẽo nhỏ vàng Bearn, khoảng mười hai hoặc mười bốn tuổi, màu vàng áo, không bờm đuôi,
nhưng không phải không có chai ở các vó và khi đi, đầu thõng xuống quá dưới gối, khiến cho việc
thắng cương đai trở nên vô ích mà vẫn đi nổi tám dặm một ngày. Không may thay, những phẩm chất
của con nghẽo lại bị che giấu hết dưới bộ lông kỳ dị và dáng đi khiếm nhã của nó, khiến cho trong cái
thời mà mọi người đều sành ngựa, thì việc một con nghẽo nhỏ con của xứ Meung nói trên, mười lăm
phút trước đây, qua cửa ô Beaugency, lọt vào xuất hiện ở đây đã tạo nên một cảm giác thiếu thiện cảm
lan sang cả tới chủ nhân của nó.
Và cái cảm giác ấy lại còn nặng nề hơn đối với chàng D'Artagnan trẻ tuổi (được mệnh danh là
chàng Don Quichotte của con ngựa Rossinante), khác là vì như thế đến nỗi chàng chẳng hề giấu mình
cái khía cạnh lố lăng đem đến cho chúng, dù chàng có là một kỵ sĩ cừ khôi đến mấy với con nghẽo
như thế, cũng như chàng đã thườn thượt thở dài khi nhận món quà mà ông D'Artagnan bố đã ban tặng.
Chàng không phải không biết một con vật như thế ít ra cũng đáng giá hai mươi đồng vàng, còn những
lời lẽ kèm theo món quà thì là vô giá.
“Này con!"
Vị quý tộc xứ Gascogne nói bằng thứ tiếng thuần Bearn mà Vua Henri IV chẳng bao giờ có thể nói
khác nổi:
“Con ngựa này sinh ra trong ngôi của cha con, đã sống ở đây từ bấy đến nay, sắp tròn mười ba
tuổi, sẽ khiến con phải yêu quý nó. Đừng bao giờ bán nó, hãy để nó được chết già trong danh dự và
lặng lẽ. Nếu con đi đường cùng nó, hãy đối xử với nó như với một lão bộc. Tới triều đình - Ông
D'Artagnan bố nói tiếp - nếu có vinh dự đến đó, thật ra vinh dự thì dòng dõi quý tộc lâu đời của con
đã cho con quyền đó rồi, hãy bảo vệ xứng đáng danh hiệu quý tộc của con, danh hiệu mà tổ tiên đã giữ
nó một cách xứng đáng hơn năm trăm năm nay, hãy bảo vệ nó vì con và vì những người thân của con,
ý cha muốn nói đấy là cha và bạn bè con. Đừng bao giờ ủng hộ ai mà chỉ với Giáo Chủ và Nhà Vua.
Hãy nghe cho rõ, thời buổi bây giờ, một người quý tộc chỉ lập nghiệp bằng lòng dũng cảm, chỉ riêng
lòng dũng cảm của mình thôi. Kẻ nào run sợ trong giây phút có thể để tuột mất cơ may mà chỉ đúng
trong giây phút đó vận may mới chìa tay với họ. Con còn trẻ, con phải can trường bởi hai lẽ: Thứ
nhất, chính vì con là dân Gascogne và thứ hai, con là con bố. Đừng sợ những cơ hội và hãy tìm kiếm
những cuộc phiêu lưu. Bố đã cho con học múa gươm. Con có khoeo chân sắt, cổ tay thép, hãy chiến
đấu vào mọi lúc, các cuộc quyết đấu càng bị cấm đoán, do đó càng phải chiến đấu bằng gấp đôi lòng
dũng cảm. Con trai ạ, ta chỉ có mười lăm đồng vàng, con ngựa của ta và những lời khuyên như con
vừa nghe để cho con. Mẹ con sẽ thêm vào đó cách chế một món thuốc cao học được của một bà
Bohémienne, có một công năng kỳ lạ chữa khỏi mọi vết thương không chạm vào tim. Hãy tận dụng mọi
cái, và hãy sống hạnh phúc và trường thọ, ta chỉ còn một điều nữa để nói thêm, đó chính là tấm gương
ta nêu với con, không phải của ta, bởi ta chưa bao giờ có mặt ở triều đình, mà ta chỉ tình nguyện tham
gia chiến tranh tôn giáo, mà ta muốn nói đến ông Treville xưa từng là láng giềng của ta, người đã có
vinh dự khi còn tấm bé đã chơi với Vua Louis XIII của chúng ta. Đôi khi trò chơi của họ chuyển thành
các trận choảng nhau, và trong những trận chiến ấy Nhà Vua không phải lúc nào cũng là kẻ mạnh hơn.
Những miếng đòn Nhà Vua nhận được khiến Ngài càng thêm khâm phục, và thân thiết nhiều hơn
với ông Treville. Sau này lần đầu tiên trong chuyến đến Paris, ông Treville đã chiến đấu chống lại
những kẻ khác năm lần. Từ cái chết của Nhà Vua quá cố đến khi Nhà Vua trẻ trưởng thành, không kể
các cuộc chiến tranh và các cuộc vây thành, ông chiến đấu bảy lần, và từ khi Nhà Vua trưởng thành
đến nay, có lẽ tới trăm lần. Vì vậy, mặc dầu những pháp lệnh, những chỉ dụ, những sắc lệnh[8] thế mà
thấy không, ông vẫn cứ là đại úy ngự lâm quân, có nghĩa là chỉ huy binh đội Césars mà Nhà Vua chủ
yếu dựa vào đó, còn Giáo Chủ thì kiêng nể, vị Giáo Chủ như mọi người đều biết, có kiêng nể điều gì
đâu.
Hơn nữa, ông Treville kiếm mười nghìn đồng tiền vàng mỗi năm, vậy là cỡ một đại lãnh chúa
mạnh rồi. Ông ta cũng khởi đầu như con. Hãy đến gặp ông cùng với bức thư này, và hãy noi gương ông
để làm sao được như ông.”
Tới đây, ông D'Artagnan bố đeo thanh kiếm của mình, cho con trai, trìu mến ôm hôn chàng lên hai
bên má và cầu phúc cho chàng.
Rời khỏi phòng cha, chàng trai thấy mẹ mình đang đợi mình với phương thuốc trứ danh, theo lời
dặn dò của ông bố sẽ luôn luôn cần đến cho chàng. Cuộc giã biệt ở đây lâu la hơn và trìu mến hơn
“cuộc giã biệt” vừa rồi, chẳng phải vì ông D'Artagnan bố không yêu con trai, kẻ nối dõi độc nhất của
mình, nhưng ông ta là một người đàn ông và sẽ bị xem là không xứng đáng khi phó mặc mình cho cảm
xúc, còn như bà D'Artagnan, bà là đàn bà, hơn nữa là mẹ. Bà khóc sướt mướt, và phải khen chàng
D'Artagnan con, đã cố gắng để tỏ ra cứng rắn như một ngự lâm quân tương lai cần phải thế, nhưng bản
năng cuốn chàng theo khiến nước mắt chàng lã chã tuôn rơi, khó khăn lắm mới giấu đi được một nửa.
Cùng ngày hôm ấy, chàng trai trẻ lên đường mang theo ba tặng vật của cha như đã nói, gồm mười
lăm đồng vàng, con ngựa và bức thư cho ông Treville, hơn nữa có cả những lời khuyên nữa.
Với một hành trang như vậy, D'Artagnan thấy mình về tinh thần cũng như thể xác, như một bản sao
chính xác nhân vật của Cervatès mà ta đã đem ra so sánh một cách rất chi thích đáng, khi mà nhiệm vụ
của một sử gia buộc chúng tôi cần thiết phải phác họa chân dung chàng. Don Quichotte coi những cối
xay gió như những gã khổng lồ và lũ cừu là những đoàn quân, còn D'Artagnan lại coi mỗi nụ cười là
một sự lăng mạ và mỗi cái nhìn là một sự khiêu khích. Vì vậy, dọc đường từ Tarbes[9] đến Meung,
chàng luôn giữ chặt nắm đấm, và tay kia vì lý do này khác đặt lên đốc gươm đến mươi lần trong ngày,
tu...
 





